Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 24/2024/DS-ST

Ngày 29-10-2024

Về việc “Tranh chấp

quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Hồng Tâm.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên- Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Nguyễn Như M, sinh năm 1982. Địa chỉ: Kiệt E H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

Bị đơn:

  • - Ông Mai Hồng A, sinh năm 1961. Có mặt.
  • - Bà Lê Thị Ơ, sinh năm 1958. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: TDP H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2022, lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn- bà Mai Nguyễn Như M trình bày:

Nguyên thửa đất số 210, tờ bản đồ số 23, diện tích 444,0m² (trong đó 300m² đất ở lâu dài, 144m² đất trồng cây lâu năm) thuộc quyền sử dụng đất của ông Mai C, bà Nguyễn Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 667593. Đến năm 2013, ông Mai C, bà Nguyễn Thị T tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Mai Nguyễn Như M, ông Phạm Văn Q được Văn Phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P xác nhận biến động ngày 14/5/2013. Đến ngày 22/02/2019, bà Mai Nguyễn Như M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 363542. Quá trình sử dụng đất, bà M chỉ trồng cây trên đất, không xây dựng gì. Đến ngày 25/7/2021 bà M phát hiện thửa đất của mình bị giảm diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ đã lấn chiếm bằng cách dựng trụ và kéo thép B40 làm hàng rào trên đất của bà, diện tích lấn chiếm khoảng 36,36m², ước tính 21.816.000 đồng nên bà M khởi kiện yêu cầu ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ phải trả diện tích đất cho bà Mai Thị Như M1 và dỡ bỏ hàng rào và trụ bê tông đã xây dựng.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà M1 có nguyện vọng giao cho vợ chồng ông A, bà Ơ diện tích đã lấn chiếm và hỗ trợ thêm cho bị đơn một số tiền để bị đơn đưa bà Nguyễn Thị T (mẹ của ông A) qua nhà ông A, bà Ơ ở và chăm sóc. Tuy nhiên, ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ không đồng ý nên bà M1 yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật, buộc bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm là 34,8m² theo đúng kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P cung cấp và dỡ bỏ hàng rào và trụ (cọc) bê tông mà bị đơn đã xây dựng.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tranh chấp.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/8/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn- ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ trình bày:

Thửa đất số 210, tờ bản đồ số 23, diện tích 444.0m² (trong đó 300m² đất ở lâu dài, 144m² đất trồng cây lâu năm) thuộc sở hữu của ông Mai C, bà Nguyễn Thị T, không biết vì lí do gì mà chuyển nhượng sang tên bà Mai Nguyễn Như M là con riêng của ông Mai C.

Ông A, bà Ơ không đồng ý việc nguyên đơn khởi kiện vì lí do bà Nguyễn Thị T là vợ ông Mai C vẫn còn sống và ở trên thửa đất tranh chấp. Nếu bà M muốn giành lại đất thì phải nuôi dưỡng, chăm sóc bà T và thờ cúng ông C. Còn về phần đất lấn chiếm, nguyên trước đây khi ông Mai C, bà Nguyễn Thị T làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã lấn chiếm đất của ông A, bà Ơ rồi. Theo bị đơn trình bày ranh giới giữa 02 thửa đất là 04 trụ (cọc) bê tông kéo thẳng về phía sau hết thửa đất nên ông bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, bị đơn- ông Mai Hồng A không đồng ý ý kiến của bà M về việc giao cho vợ chồng ông diện tích đất tranh chấp và hỗ trợ thêm cho vợ chồng ông một số tiền để ông đưa bà Nguyễn Thị T qua nhà ông ở và đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp theo pháp luật

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa:

  • - Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử; nguyên đơn, bị đơn- ông Mai Hồng A đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng. Bị đơn- bà Lê Thị Ơ không chấp hành đúng quy định theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- bà Mai Nguyễn Như M; buộc bị đơn ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ phải trả lại phần quyền sử dụng đất lấn chiếm cho nguyên đơn 34,8m², thể hiện ở phần (A) theo Bản vẽ hiện trạng nhà đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thực hiện ngày 11/7/2024 cung cấp và tháo dỡ trụ (cọc) bê tông. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tranh chấp giữa nguyên đơn- bà Mai Nguyễn Như M với bị đơn- ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ là tranh chấp quyền sử dụng đất. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm là 34,8m² và dỡ bỏ hàng rào và trụ bê tông mà bị đơn đã xây dựng lấn chiếm qua phần đất của nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất. Các đương sự không yêu cầu giải quyết tài sản trên đất nên không xem xét.

Bị đơn và quyền sử dụng đất đều tại địa chỉ tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân thị trấn P nhưng không thành nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang theo quy định tại khoản 24 Điều 3, Điều 203 Luật đất đai; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn- bà Lê Thị Ơ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự việc bất khả kháng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Ơ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối với yêu cầu buộc ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ trả lại diện tích đất lấn chiếm.

Đối với yêu cầu buộc ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ trả lại diện tích đất lấn chiếm là 34,8m², so với yêu cầu ban đầu là 36,36m², không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên cần được chấp nhận.

Về diện tích đất lấn chiếm là 34,8m² thuộc thửa đất số 210, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 363542 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 22/02/2019 cho bà Mai Nguyễn Như M.

Về nguồn gốc thửa đất: Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận thuộc quyền sử dụng đất của ông Mai C, bà Nguyễn Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 667593. Đến ngày 14/5/2013 ông C, bà T tặng cho vợ chồng ông Phạm Văn Q, bà Mai Nguyễn Như M. Đến ngày 22/02/2019 bà Mai Nguyễn Như M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 363542. Bị đơn- ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ cho rằng diện tích đất tranh chấp vốn thuộc sử dụng đất của bị đơn nhưng lấn chiếm trong quá trình ông C, bà T làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C, bà T nên Tòa án xem xét, giải quyết.

Về diện tích thửa đất, ghi nhận ở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 667593 là 444,0m² (đất ở 300,0m², đất trồng cây lâu năm 144,0m²), đến khi chuyển sang cho bà Mai Nguyễn Như M, ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 363542 cũng giữ nguyên diện tích là 444,0m² (đất ở 300,0m², đất trồng cây lâu năm 144,0m²). Như vậy không có sự thay đổi diện tích đất trong quá trình bà Mai Nguyễn Như M sử dụng đất.

Về thực trạng sử dụng đất: Quá trình về xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa án xác nhận trên đất tranh chấp có 04 trụ (cọc) bê tông đã cũ nằm trên vị trí tranh chấp, không có tài sản nào khác. Qua Bản vẽ hiện trạng nhà đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P cung cấp ngày 11/7/2024 xác định 04 trụ (cọc) bê tông cắm từ vị phần (A), phía trước chiều ngang tiếp giáp đường đi dài 1,30m, phía sau chiều ngang tiếp giáp thửa đất 209 dài 1,41m, chiều dài 24,24m. Tổng diện tích phần đất tranh chấp là 34,8m² được xác định thuộc quyền sử dụng đất của bà Mai Nguyễn Như M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 363542 ngày 22/02/2019, tiếp giáp thửa đất 211, tờ bản đồ số 23 của ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, buộc ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ trả lại phần đất lấn chiếm 34,8m².

[2.2] Đối với yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ trụ bê tông, hàng rào xây dựng trên diện tích đất tranh chấp.

Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/4/2024, hiện trạng tranh chấp giữa hai thửa đất chỉ có 04 trụ (cọc) bê tông, không có tài sản nào khác (không có thép B40) nên không xem xét tháo dỡ thép B40 vì không có. Nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận 04 trụ (cọc) bê tông là do bị đơn- ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ dựng hàng rào, không được sự đồng ý của nguyên đơn. Do yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất của nguyên đơn được chấp nhận, xác định diện tích 34,8m² thuộc quyền sử dụng của bà Mai Nguyễn Như M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 363542 ngày 22/02/2019 nên cần chấp nhận yêu cầu bà M, buộc ông Hồng A, bà Ơ tháo dỡ 04 trụ (cọc) bê tông ra khỏi phần quyền sử dụng đất của bà M.

[3] Từ những phân tích, nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Nguyễn Như M.

[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đã nộp đủ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Giá trị tài sản tranh chấp là 104.400.000 đồng (34,8m² x 3.000.0000 đồng/m²). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn- ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.220.000 đồng; hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 544.500 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001690 ngày 05/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang cho bà Mai Nguyễn Như M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 24 Điều 3, Điều 203 Luật đất đai; Điều 163; Điều 166 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Nguyễn Như M;
    • - Buộc ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ phải trả lại cho bà Mai Nguyễn Như M quyền sử dụng đất 34,8m², được ký hiệu ở phần (A) theo Bản vẽ hiện trạng nhà đất kèm theo bản án.
    • - Buộc ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ phải tháo dỡ 04 trụ (cọc) bê tông ra khỏi phần quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 363542 ngày 22/02/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho bà Mai Nguyễn Như M, được ký hiệu là C1, C2, C3, C4 theo Bản vẽ hiện trạng nhà đất kèm theo bản án.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Mai Hồng A, bà Lê Thị Ơ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.220.000 đồng; hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 544.500 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001690 ngày 05/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang cho bà Mai Nguyễn Như M.
  3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đã nộp đủ.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn- ông Mai Hồng A có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn- bà Lê Thị Ơ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Kèm theo bản án là Bản vẽ hiện trạng nhà đất.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu dán án;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger