Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ - ST.

Ngày: 25/10/2024.

V/v: Tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh, bà Đào Phương Mai.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Gấm - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 302/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thùy A, sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số G D, phường T, quận H, Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Trọng N, sinh năm: 1988; Nơi ĐKHKTT: SỐ G D, phường T, quận H, Hà Nội; Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam S, huyện B, thành phố Hà Nội.

(Chị Thùy A có mặt, anh N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 25/7/2024; Bản tự khai và các văn bản tố tụng khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Vũ Thùy A trình bày:

Về tình cảm: Chị và anh Huỳnh Trọng N đăng ký kết hôn ngày 08/10/2013 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Hà Nội, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị và anh N chung sống tại số G D, phường T, quận H, Hà Nội. Quá trình chung sống giữa chị và anh N phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống bất đồng, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù đã được gia đình khuyên giải, bản thân chị cũng đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân. Năm 2020, anh N bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 1 - Trại giam S, xã C, huyện B, Hà Nội. Nay chị Thùy A xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Trọng N.

Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung, là: Huỳnh Vũ Gia N1, sinh ngày 06/7/2014 và Huỳnh Vũ Gia A1, sinh ngày 11/7/2017. Ly hôn, chị Thùy A xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản (động sản, bất động sản) chung: Chị và anh N không có tài sản chung. Ly hôn, chị Thùy A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị và anh N không có khoản vay nợ chung. Ly hôn, chị Thùy A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai ngày 08/10/2024, bị đơn anh Huỳnh Trọng N trình bày:

Về tình cảm: Anh và chị Vũ Thùy A đăng ký kết hôn ngày 08/10/2013 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Hà Nội, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại số G D, phường T, quận H, Hà Nội. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống bất đồng, không tìm được tiếng nói chung, trong gia đình thường xuyên xảy ra tranh cãi. Mặc dù đã được gia đình khuyên giải, bản thân anh N cũng đã khắc phục nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân. Năm 2020, anh N bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 1 - Trại giam S, xã C, huyện B, Hà Nội. Nay chị Thùy A xin ly hôn đối với anh, anh đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn, đã ly thân, khả năng hàn gắn là không thể có được. Anh N đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Thùy A được ly hôn.

Do hiện nay anh đang phải chấp hành án, không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được nên anh N xin được được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử vụ án.

Về con chung: Anh và chị Thùy A có 02 con chung, là: Huỳnh Vũ Gia N1, sinh ngày 06/7/2014 và Huỳnh Vũ Gia A1, sinh ngày 11/7/2017. Ly hôn, chị Thùy A xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, anh N đồng ý vì hiện nay anh đang phải chấp hành án, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung được. Vì vậy, anh N xin được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh.

Về tài sản (động sản, bất động sản) chung: Anh và chị Thùy A không có tài sản chung. Ly hôn, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Anh và chị Thùy A không có khoản vay nợ chung. Ly hôn, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các bên đương sự để nguyên đơn, bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Chị Thùy A, anh N đều đã có quan điểm tự khai. Tuy nhiên, hiện anh N đang phải chấp hành án tại trại giam, không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được nên anh N xin được được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thùy A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, anh Huỳnh Trọng N hiện đang chấp hành án tại trại giam, không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được nên anh có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, anh Huỳnh Trọng N.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thùy A, cho chị Vũ Thùy A được ly hôn anh Huỳnh Trọng N. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Vũ Gia N1, sinh ngày 06/7/2014 và cháu Huỳnh Vũ Gia A1, sinh ngày 11/7/2017 cho chị Thùy A trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh N; Về tài sản chung (động sản, bất động sản) và về nợ chung: Chị Thùy A và anh N cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Chị Thùy A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “Tranh chấp ly hôn”, bị đơn là anh Huỳnh Trọng N có ĐKHKTT và nơi cư trú trước khi đi chấp hành án là tại số G D, phường T, quận H, Hà Nội; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho các bên đương sự để nguyên đơn, bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Chị Thùy A, anh N đều đã có quan điểm tự khai. Tuy nhiên, hiện anh N đang phải chấp hành án tại Trại giam S, không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được nên anh có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm tại bản tự khai. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 207 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

  • - Quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thùy A và anh Huỳnh Trọng N đăng ký kết hôn ngày 08/10/2013 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, Hà Nội, xác nhận hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
  • Căn cứ vào lời khai của các đương sự đủ cơ sở xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Thùy A và anh N là có căn cứ được chấp nhận.
  • - Về con chung: Chị Thùy A và anh N có 02 con chung, là: Huỳnh Vũ Gia N1, sinh ngày 06/7/2014 và Huỳnh Vũ Gia A1, sinh ngày 11/7/2017. Ly hôn, chị Thùy A có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Xét yêu cầu xin được nuôi dưỡng con chung của chị Thùy A là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế nuôi dưỡng con chung (về vật chất, tinh thần) để con trẻ có môi trường sống tốt. Hiện nay chỗ ở, công việc và thu nhập của chị Thùy A ổn định, từ khi anh chị sống ly thân, các cháu ở với mẹ, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đều do chị Thùy A trực tiếp đảm nhiệm. Bên cạnh đó, còn có sự hỗ trợ từ phía gia đình (bố, mẹ đẻ của chị Thùy A) trong việc chăm sóc, đưa đón các cháu. Hiện cuộc sống, sinh hoạt, học tập của các cháu Gia N1, Gia A1 ổn định. Anh N hiện đang phải chấp hành án tại trại giam, không thể trực chăm sóc, nuôi dưỡng con chung được. Do vậy thấy, cần giao các cháu Gia N1, Gia A1 cho chị Thùy A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Về phần cấp dưỡng nuôi con: Chị Thùy A không yêu cầu, anh N xin được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay anh đang phải chấp hành án tại trại giam, không có điều kiện và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung được nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh N cho đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
  • - Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị Thùy A, anh N cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về nợ: Chị Thùy A, anh N cùng xác nhận vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về án phí: Chị Thùy A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thùy A.
    Cho chị Vũ Thùy A được ly hôn với anh Huỳnh Trọng N.
  2. Về con chung: Xác nhận chị Thùy A, anh N có 02 con chung, là: Huỳnh Vũ Gia N1, sinh ngày 06/7/2014 và Huỳnh Vũ Gia A1, sinh ngày 11/7/2017. Ly hôn, giao cháu Gia N1 và cháu Gia A1 cho chị Thùy A trực tiếp nuôi dưỡng; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh N cho đến khi 02 con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
    Anh Huỳnh Trọng N có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
  3. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Thùy A, anh N cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về công nợ: Chị Thùy A, anh N cùng xác nhận vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Thùy A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Thùy A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069003 ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H, Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Chị Thùy A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; anh N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - THA quận Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - UBND p. Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TRƯƠNG THỊ THU HIỀN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ - ST. ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger