|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 21-10-2024
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phùng Thị Cẩm Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Thủy
- 2. Bà Kiều Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024.
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bảo T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: số C ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Bị đơn: ông Lam Quoc K, sinh năm 1972.
Địa chỉ: số A Bertland CT S, CA 95131, USA.
(Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 17/5/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bảo T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà T và ông Lam Quoc K quen biết và kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2017 ngày 01/11/2017. Sau khi kết hôn thì ông Lam Quoc K sống ở Hoa Kỳ, còn bà T thì sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Ông K và bà T không thường xuyên liên lạc với bà T, không quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay bà T và ông K đều có công việc và không cùng nhau làm kinh tế để xây dựng gia đình. Do đó, nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lam Quoc K.
- Về con chung: Bà xác định không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có.
Bị đơn ông Lam Quoc K trình bày tại Bản tự khai ngày 29/8/2024 và tại Biên bản ghi lời khai ngày 05/9/2024:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lam Quoc K thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Bảo T về quá trình hôn nhân. Sau khi kết hôn thì ông K về Hoa Kỳ tiếp tục sinh sống và làm việc, không thường xuyên về Việt Nam, còn bà T thì tiếp tục sinh sống tại Việt Nam. Giữa ông K và bà T cũng không còn giữ liên lạc với nhau thường xuyên, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay bà Nguyễn Thị Bảo T yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
- Về con chung: Ông xác định không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị Bảo T hiện đang sinh sống tại xã T, huyện C, tỉnh Long An khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lam Quoc K hiện đang sinh sống tại Mỹ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bảo T và bị đơn ông Lam Quoc K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bảo T và Lam Quoc K.
[2] Về nội dung: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2017 ngày 01/11/2017 do UBND huyện C, tỉnh Long An cấp thì bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Lam Quoc K là vợ chồng hợp pháp. Về quá trình chung sống thì giữa bà T và ông Lam Quoc K không sống cùng với nhau kể từ khi kết hôn. Bà T từ khi kết hôn cho đến nay vẫn ở Việt Nam, còn ông Lam Quoc K làm việc và sinh sống tại Mỹ. Cả hai đều có cuộc sống độc lập, kinh tế không phụ thuộc lẫn nhau, không thường xuyên liên lạc với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Đối với yêu cầu ly hôn của bà T thì ông Lam Quoc K đồng ý. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông Lam Quoc K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bảo T.
[2.1] Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Lam Quoc K xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Từ những phân tích trên: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bảo T là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Bảo T phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 153, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bảo T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Bảo T được ly hôn với Lam Quoc K.
1.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Lam Quoc K xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bảo T và ông Lam Quoc K xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Bảo T phải chịu 300.000 đồng án phí, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0000112 ngày 02/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho bà Nguyễn Thị Bảo T và 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho ông Lam Q Ken theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Cẩm Hồng |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
