Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/KDTM-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,

thế chấp tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Hồng Diễm Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Kim Lý;
  2. Ông Lê Văn Đặng.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 32/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P; địa chỉ trụ sở: Tầng A, tầng 10 và tầng 11, Tòa nhà Hanoi Tungshing S, số B N, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1995– chuyên viên tín dụng Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P – Chi nhánh B; địa chỉ: Số C, tỉnh lộ 15, ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền ngày 8/5/2024), có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Thương mại dịch vụ vật liệu xây dựng Đ; địa chỉ trụ sở: lô E, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trọng G – Chức danh: Tổng Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phùng Thị Hồng T1, sinh năm 1985; nơi thường trú: Khu phố C, phường A, thị xã K, tỉnh Long An; nơi tạm trú: Ô P1B, lô NP32, khu tái định cư M, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Giấy ủy quyền ngày 24/6/2024), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Trọng G, sinh năm 1986; nơi thường trú: Tổ B, khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thị Hồng T1, sinh năm 1985; nơi thường trú: Khu phố C, phường A, thị xã K, tỉnh Long An; nơi tạm trú: Ô P1B, lô NP32, khu tái định cư M, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Giấy ủy quyền ngày 26/8/2024), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại Đơn khởi kiện đề ngày 13/03/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Công Ty Cổ Phần Thương Mại VLXD Đ có vay vốn tại Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P theo hợp đồng tín dụng sau:

Hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022: vay số tiền 1.015.000.000 đồng, mục đích vay: Mua xe ô tô nhãn hiệu FORD EVEREST 2.0L ST5 10 AT 4X4 TITA. Hạn mức này được hoàn trả vào ngày 10 hàng tháng một khoản tiền trả gốc bằng nhau là 17.000.000 đồng trong vòng 60 tháng (có điều chỉnh ở lần trả cuối cùng nếu cần thiết), bắt đầu sau một tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Tổng thời hạn vay là 60 tháng.

Lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng : lãi suất là 3,255%/năm + lãi suất huy động tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 18 tháng đối với khách hàng cá nhân theo phương thức trả lãi một lần vào cuối kỳ. Khoản vay được giải ngân ngày 26/10/2022 theo Khế ước số 060-8-55-00-22185 với số tiền 1.015.000.000 đồng.

Việc vay vốn được Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ bảo đảm bằng tài sản sau:

Xe ô tô nhãn hiệu FORD EVEREST 2.0L ST5 10 AT 4X4 TITA, biển kiểm soát 61K – 164.55 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61001755 do Công an tỉnh B cấp ngày 25/10/2022 cho Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 26/10/2022 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng. Ngày 25/10/2022 ông Phạm Trọng G ký thư bảo lãnh, bên bảo lãnh là ông Phạm Trọng G (là Tổng Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ) đồng ý thanh toán tiển nợ gốc, tiền lãi, tiền phạt và tất cả các khoản phí tại Hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022 thay cho bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P nếu Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022 đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay.

Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng trên, Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ tại điều khoản trả nợ trong hợp đồng tín dụng dẫn đến khoản vay bị quá hạn từ ngày 21/11/2023. Do đó, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  • - Buộc Công Ty Cổ phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, tính đến ngày 20/9/2024 cụ thể như sau:
    • + Tiền nợ gốc: 906.700.000 đồng.
    • + Tiền lãi quá hạn: 113.934.085 đồng
    • + Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng
    • + Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng
    • Tổng cộng: 1.035.395.869 đồng
  • - Trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
  • - Trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay thì ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên theo Thư bảo lãnh đã ký ngày 25/10/2022.

Nguyên đơn giao nộp các tài liệu, chứng cứ sau: Hồ sơ pháp lý của Ngân hàng; Giấy đề nghị vay vốn; Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp; các hợp đồng tín dụng; khế ước nhận nợ; hợp đồng thế chấp; Văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm; Giấy chứng nhận giấy chứng nhận đăng ký xe; sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân; Lịch trả nợ báo cáo nợ quá hạn biên bản làm việc, Thư bảo lãnh.

2. Quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của bị đơn bà Phùng Thị Hồng T1 trình bày:

Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ có ký Hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022 với hạn mức 1.015.000.000VNĐ để tài trợ mua xe ô tô Ford Everest 2.0 L ST5 10AT 4X4 TITA với Ngân hàng TNHH MTV P.

Để đảm bảo cho khoản vay trên thì Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ thế chấp chiếc xe có thông tin như sau: Nhãn hiệu: FORD EVEREST 2.0L ST5 10AT 4x4, màu đen, 7 chỗ, sản xuất tại Thái Lan, biển số: 61K-164.55, chủ sở hữu: Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ theo theo Hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 26/10/2022 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng.

Ngày 25/10/2022 ông Phạm Trọng G (là Tổng Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ) đã ký thư bảo lãnh cho Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ) nếu Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022 đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay thì ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên theo Thư bảo lãnh đã ký.

Quá trình vay đến nay Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ đã thanh toán tiền nợ gốc 108.300.000 đồng. Do gặp khó khăn nên Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 21/11/2023. Tính đến ngày 20/9/2024 Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ nợ Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P số tiền 1.035.395.869 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 906.700.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 113.934.085 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng.

Nay Ngân hàng TNHH MTV P khởi kiện, Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý chịu án phí.

3. Quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị Hồng T1 trình bày:

Ngày 25/10/2022 ông Phạm Trọng G (là Tổng Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ) đã ký thư bảo lãnh cho Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ) nếu Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022 đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay thì ông Phạm Trọng G đồng ý thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên theo Thư bảo lãnh đã ký.

Nay Ngân hàng TNHH MTV P khởi kiện, ông G đồng ý trả nợ thay các khoản vay tại hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022 đã ký nếu Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay.

4. Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Duy T giao nộp cho Tòa án Bảng tính gốc lãi tính đến ngày 20/9/2024 đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022. Đồng thời thay đổi yêu cầu khởi kiện về tiền nợ gốc, tiền lãi tính đến ngày 20/9/2024 như sau: Tiền nợ gốc: 906.700.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 113.934.085 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng. Trường hợp Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay thì ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên theo Thư bảo lãnh đã ký ngày 25/10/2022.

5. Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng và đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại chương XIV của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy, Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật và đã phát sinh hiệu lực, buộc các bên phải chịu trách nhiệm đối với những điều khoản đã thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng.
  • Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng khởi kiện buộc bị đơn trả cho Ngân hàng tổng số tiền số tiền 1.035.395.869 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 906.700.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 113.934.085 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng tính đến ngày 20/9/2024 là có căn cứ chấp nhận. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là có căn cứ chấp nhận. Trường hợp bị đơn không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay thì ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên theo Thư bảo lãnh đã ký ngày 25/10/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến trình bày của đại diện nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, sau khi Hội đồng xét xử nghị án, nhận thấy:

[1] Về tố tụng :

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết : Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là “tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ có trụ sở tại thành phố B, tỉnh Bình Dương là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện:

Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện về tiền nợ gốc, lãi của đại diện nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, thuộc phạm vi được uỷ quyền và không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phù hợp Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên có cơ sở chấp nhận.

[1.3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

[2.1] Xét Hợp đồng hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P và Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ VLXD Đ, thấy rằng: Về hình thức và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật, phù hợp Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 23, khoản 1 Điều 30 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên phát sinh hiệu lực.

Xét thấy hợp đồng tín dụng BDG/000347/22 ngày 19/10/2022 là loại hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi suất, có thế chấp tài sản bảo đảm. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ không thanh toán nợ gốc, lãi đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định trong hợp đồng tín dụng nêu trên và Điều 466 Bộ luật Dân sự. Do đó, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P khởi kiện yêu cầu Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ trả nợ là phù hợp Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu về số tiền nợ gốc, thấy rằng: Tổng số tiền nợ gốc Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ vay của ngân hàng là 1.015.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ thừa nhận đã trả được số tiền nợ gốc tính đến ngày 20/9/2024 là 108.300.000 đồng, Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ thống nhất đối với số tiền nợ gốc còn nợ ngân hàng đến ngày 20/9/2024 là 906.700.000 đồng. Do đó, có cơ sở buộc Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ trả lại số tiền nợ gốc còn lại của khoản vay trên là 906.700.000 đồng.

[2.3] Xét mức lãi suất, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn trong hợp đồng tín dụng nêu trên, thấy rằng: Theo quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và Điều 13, 14 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N thì các tổ chức tín dụng được quyền thỏa thuận mức lãi suất cho vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và các loại phí liên quan đến hợp đồng tín dụng với bên vay. Do đó, việc thỏa thuận mức lãi suất cho vay, điều chỉnh lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng: lãi suất là 3,255%/năm + lãi suất huy động tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 18 tháng đối với khách hàng cá nhân theo phương thức trả lãi một lần vào cuối kỳ ghi trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ là không trái quy định pháp luật. Xét việc tính lãi của ngân hàng tính đến ngày 20/9/2024 đúng thỏa thuận hai bên đã ký kết, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu về tiền lãi của ngân hàng, buộc Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ phải trả số tiền T2 lãi quá hạn: 113.934.085 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng.

[2.4] Xét yêu cầu phát mãi tài sản, thấy rằng: Khi vay tiền, Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ thế chấp cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P 01 chiếc xe ôtô như đã trình bày tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án. Tài sản trên được các bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm (nay là Nghị định 21/2021/NĐ-CP, ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ) nên phát sinh hiệu lực. Do đó, trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ không thanh toán số nợ trên, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án.

Căn cứ vào Thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 được ký giữa bên bảo lãnh là ông Phạm Trọng G và bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P thì bên bảo lãnh đồng ý thanh toán tiển nợ gốc, tiền lãi, tiền phạt và tất cả các khoản phí tại Hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022 thay cho Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ nếu Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022 đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay. Do đó, căn cứ vào Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó”, yêu cầu của nguyên đơn về việc Trường hợp bị đơn không thanh toán tiền vay hoặc chỉ thanh toán được một phần khoản vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký và việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán tiền vay thì ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên theo Thư bảo lãnh đã ký ngày 25/10/2022 là có căn cứ và được chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên nên Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P số tiền nợ vay tính đến ngày 20/9/2024 là số tiền 1.035.395.869 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 906.700.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 113.934.085 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng. Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P. Trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ vay, bên bảo lãnh là ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, Thư bảo lãnh ngày 25/10/2022.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ phải chịu án phí trên số tiền nợ phải trả cho ngân hàng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát trả lại cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các điều 342, điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015 và các điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ;
  • - Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm ;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 ;
  • - Căn cứ Nghị định 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm và Nghị định 21/2021/NĐ-CP, ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P đối với bị đơn Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản.
    • - Về tiền nợ: Buộc Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P tổng số tiền số tiền 1.035.395.869 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 906.700.000 đồng; Tiền lãi quá hạn: 113.934.085 đồng; Tiền phạt gốc quá hạn: 8.021.904 đồng; Tiền phạt lãi quá hạn: 6.739.880 đồng tính đến ngày 20/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022 giữa Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P và Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ.
    • Tiền lãi từ ngày 21/9/2024 trở đi được tiếp tục tính trên dư nợ gốc thực tế theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi trả hết nợ.
    • Sau khi Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ trả hết số nợ trên, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P và Công ty TNHH S1 có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm tài sản, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P trả lại Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ bản chính:
      • - Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61001755 của Phòng C Công an tỉnh B cấp cho Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ đối với xe ôtô nhãn hiệu FORD EVEREST 2.0L ST5 10AT 4x4, màu đen, 7 chỗ, sản xuất tại Thái Lan, biển số: 61K-164.55.
    • Trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ không trả số tiền trên hoặc trả nhưng không đầy đủ thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp như sau:
      • - Xe ô tô nhãn hiệu xe ôtô nhãn hiệu FORD EVEREST 2.0L ST5 10AT 4x4, màu đen, 7 chỗ, sản xuất tại Thái Lan, biển số: 61K-164.55 đã được Phòng C Công an tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61001755 ngày 25/10/2022 cho Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ theo Hợp đồng thế chấp số HDTC- BDG/000347/22 ngày 25/10/2022, được đăng giao dịch tài sản bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng ngày 26/10/2022.
    • Trường hợp Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ vay, bên bảo lãnh là ông Phạm Trọng G có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay theo hợp đồng tín dụng số BDG/000347/22 ngày 19/10/2022, Thư bảo lãnh ngày 25/10/2022
  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Công Ty Cổ Phần Thương Mại Dịch Vụ Vật liệu Xây dựng Đ chịu số tiền 43.061.876 (bốn mươi ba triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm bảy mươi sáu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát.

    Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát trả lại Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P số tiền 20.763.869 (hai mươi triệu, bảy trăm sáu mươi ba ngàn tám trăm sáu mươi chín đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001096, ngày 6/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/KDTM-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản

  • Số bản án: 24/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TNHH MTV P khởi kiện Công ty CP TMDV VLXD Đ về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger