Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 17-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Huyền Thanh và ông Phạm Hoàng Hân.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Thanh T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thanh Q (đã chết) và con bà Trần Thị T1; vợ: Trần Thị T2 (đã chết); con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 14/01/2024. Tạm giam từ ngày 23/01/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Bà Trần Thị T2 (tên gọi khác Trần Hồng T3), sinh năm 1976 (chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Hồng T3:

  • + Cụ bà Tạ Thị C, sinh năm 1952 (Là mẹ bị hại);
  • Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  • + Anh Đào Thanh V, sinh năm 1997 (Là con bị hại);
  • + Anh Đào Thanh N, sinh năm 2005 (Là con bị hại);
  • Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền cho người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Trần Hùng M, sinh năm 1984, theo văn bản ủy quyền ngày 30/01/2024 (Là em bị hại - có mặt).

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Phạm Xuân K - Luật sư của Công ty L thuộc đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

Địa chỉ: A, L Khu Đô Thị T, xã L, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 12/01/2024, Đào Thanh T đến nhà ông Đào Thanh N1, địa chỉ ấp L, xã T, huyện N để nhậu, khoảng 16 giờ cùng ngày T nghỉ nhậu đi về nhà. Khi T nằm võng trong nhà phía trước, một lúc sau vợ của T là bà Trần Thị T2 cùng lên võng nằm chung, bà T2 cằn nhằn việc T đi nhậu từ sáng tới chiều nên xảy ra mâu thuẫn cự cải nhau dẫn đến hai bên ẩu đả nhau, T dùng tay trái nắm tóc bà T2, dùng tay phải đánh nhiều cái vào mặt, đầu và sau gáy của T2 do say rượu T không xác định đánh bao nhiêu cái, sau đó bà T2 xuống võng thì T đạp vào chân làm bà T2 khụy ngồi trên sàn, T đứng dậy dùng chân phải đá bà T2, bà T2 chạy vào phòng thì vấp ngạch cửa phòng khuỵ gối tư thế úp trên nền ván trong phòng ngủ, T đỡ bà T2 lên giường, qua một lúc, không xác định bao lâu bà T2 than mệt nên T cạo gió và lấy 01 viên thuốc Paracetamol đưa cho T2 uống, không bao lâu T2 bị nôn ói nên T có gội đầu cho bà T2, xong thấy T2 than mệt và khó thở nên T gọi điện thoại cho con ruột là anh Đào Thanh V và gọi cho anh ruột của T là ông Đào Thanh P thông báo là bà T2 mệt, kêu đến nhà để đưa bà T2 đi đến Bệnh viện.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, bà T2 được đưa đến Bệnh viện Đ trong tình trạng hôn mê, thở máy nên Bệnh viện Đ chuyển bà T2 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh C cấp cứu, đến khoảng 04 giờ ngày 13 tháng 01 năm 2024, bà T2 tử vong. Khoảng 08 giờ ngày 13/01/2024 ông Trần Hùng M (em ruột bà T2) đến Công an xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau trình báo về việc chị ruột của ông là bà T2 chết một cách bất thường lúc 04 giờ ngày 13/01/2024 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh C trên mặt, tay, chân và trên cơ thể bà T2 có nhiều vết bầm tím nghi bị đánh, theo bệnh án của Bệnh viện nguyên nhân tử vong là do chấn thương sọ não, Công an xã T tiến hành lập biên bản tiếp nhận sự việc. Cùng ngày 13/01/2024, Công an xã T chuyển tin báo đến Công an huyện N để xử lý theo thẩm quyền.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường lúc 12 giờ 15 phút ngày 13/01/2024 tại nhà Đào Thanh T, tang vật thư giữ gồm: 01 mốc treo dán tường; 01 dây buộc tóc bằng vải, màu đen, có dín tóc; 01 nhóm sợi tóc ký hiệu “3”; 01 nhóm sợi tóc ký hiệu số “4”; 01 áo sơ mi, tay dài nam màu trắng, có sọc; 01 nút áo nhựa, buộc chỉ đen; 01 nút kim loại màu vàng đen và 01 mớ tóc; 01 súng tự chế, dài 116cm, đã qua sử dụng. Cùng ngày 13/01/2024 ông Trần Hùng M giao nộp 01 áo vải, loại thun tay dài, nền xanh có nhiều hoa văn màu vàng, đỏ, hiện tại bị mất 02 cúc áo tại vị trí thứ 02, 03 từ trên xuống, bung chỉ phần nách áp bên trái không liên tục dài 12cm, tại lưng áo phía bên trái bung chỉ dài 09cm, tại lưng áo bên phải bung chỉ dài 11cm, phần phía sau cổ áo lủng lỗ, bung chỉ dài 06cm, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04C, màu đen, số IMEI1: 351610267547181, số IMEI2: 351745897547183, kèm sim số 0904817674. Thu giữ trên người Đào Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen số seri 357723102510092, kèm sim số 0948059263.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi, lúc 13 giờ 20 phút ngày 13/01/2024 tại ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau, khám nghiệm tử thi Trần Hồng T3 ghi nhận:

  • Đầu: ở vùng đầu có dấu sưng nề không rõ ranh giới;
  • Mặt: ở vùng trán có nhiều vết bầm nhỏ, có 04 vết trầy xước da từ phài sang trái, kích thước d1=(0,3x0,1)cm; d2=(0,8x0,2)cm; d3=(1,5x0,3)cm; d4=(1x0,3)cm. Hai mắt quằng bầm tụ máu, kết mạc mắt sung huyết, ở vùng gò má bên phải và trái có nhiều vết bầm rải rác, ở xương chính mũi có vết trầy xước (0,5x0,2)cm và bầm tụ máu sau vành tai. Vành tai phải có vết rách da nhỏ (0,4x0,3)cm, bầm tụ máu vành tai phải, ở cằm có vết bầm tụ máu kích thước (3x2)cm, răng và hàm không tổn thương.
  • Cổ-Gáy: không dấu thương tích;
  • Ngực và bụng: vùng mạn sườn phải gai chậu trước trên bầm tụ máu, kích thước (8x3)cm, hông bên trái có nhiều vết bầm tụ máu kích thước (13x8)cm. Lưng: Ở vai phải bầm tụ máu kích thước (9x6)cm, lưng bên phải có nhiều vết bầm tụ máu kích thước (8x7)cm, vùng thắt lưng có vết bầm tụ máu kích thước (23x3)cm;
  • Mông và cơ quan sinh dục: ở vùng mông trái có vết trầy xước kích thước (13x0,3)cm và bầm tụ máu kích thước (12x13)cm, vùng mông trái có dính nhiều tóc;
  • Chi trên: Tay phải có nhiều vết bầm tụ máu, tập trung nhiều mặt sau cẳng tay và mu bàn tay. Tay trái có nhiều vết bầm tụ máu tập trung nhiều và mặt sau cẳng tay và mu bàn tay;
  • Chi dưới: ở đùi phải có nhiều vết bầm tụ máu tập trung nhiều ở mặt sau, cẳng chân phải bầm tụ máu tập trung nhiều ở mặt trước và mu bàn chân. Đùi trái có nhiều vết bầm tụ máu, cẳng chân trái có nhiều vết bầm tụ máu tập trung nhiều ở mặt trước đến cổ chân.

Mổ tử thi:

  • Rạch da từ đầu theo đường lên đỉnh tai kiểm tra:
    • Bầm tụ máu dưới da đầu rải rác ở nhiều vùng;
    • Hộp sọ không nứt vỡ;
    • Mổ họp sọ kiểm tra: Xuất huyết dưới màn cứng ở bán cầu não phải, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu. Tổ chức não phù nề, ở bán cầu não phải tụ máu thành khối, nên sọ không nức vỡ.
  • Rạch da theo đường giữa từ cổ đến hạ vị kiểm tra:
    • Bầm tụ máu dưới da cổ vùng hố chậu hai bên;
    • Khoang màng phổi phải không máu; nhu mô phổi không tổn thương cùng sườn không gãy, khoang màng phổi trái có ít dịch, ở vùng cuống phổi có dấu sung huyết, nhu mô phổi không tổn thương, cung sườn không gãy;
    • Tim: không tổn thương;
    • Ô bụng: không máu;
    • Gan, ruột, lách, dạ dày: không tổn thương;
    • Tử cung bình thường, trong lòng tử cung trắng;
    • Mổ dạ dày kiểm tra: Trong dạ dày có dịch, không thức ăn;

Rạch da kiểm tra: mu bàn tay phải, 1/3 trên cánh tay trái, mặt sau cẳng tay trái, mu bàn tay trái, mặt trước cẳng chân trái phát hiện bầm tụ máu dưới da.

Qua khám nghiệm thu giữ của nạn nhân Trần Thị T2: 01 áo khoác dài tay màu vàng đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay, sọc caro vàng, có 06 cúc áo, chỉ còn cúc áo thứ tư màu trắng từ trên xuống, đã qua sử dụng; 01 áo dài tay màu đỏ, sọc caro, màu trắng đen, bên phải thân áo có dấu rách theo đường chỉ, mặt sau bên trái có vết rách theo đường chỉ ở vai sau và nách, có 04 cúc áo, chỉ còn 02 cúc áo thứ nhất và thứ tư, đã qua sử dụng; 01 áo thun ngắn tay, hoa văn màu xanh, trắng, đã qua sử dụng; 01 áo thun ngắn tay, hoa văn màu vàng, nâu, đen, đã qua sử dụng; 01 quần thun dài hoa văn vàng, nâu đã qua sử dụng; 01 quần hoa văn trắng, đỏ đã qua sử dụng và 01 quần dài hoa văn xanh, trắng.

Biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể lúc 14 giờ 20 phút ngày 13/01/2024 của bị cáo Đào Thanh T, xác định:

  • Vùng trán bên trái có vết bầm, tụ máu kích thước (2x1,2)cm;
  • Sưng nề hàm bên trái, kích thước (5x4)cm, trầy xước mặt trong vành tay trái, kích thước (1x0,1)cm;
  • Trầy xước da dưới xương đòn bên trái, kích thước (3,5x0,5)cm;
  • Ở mặt sau trong 1/3 cẳng tay phải có 02 (hai) vết trầy xước kích thước D1=(6x0,1)cm, D2=(4x0,1)cm;
  • Nhiều vết bầm từ khủy tay đến cổ tay phải ở mặt sau trong ở tay phải, bầm ở mô ngón một bàn tay phải, kích thước (3,5x2,5)cm;
  • Mu bàn tay phải có vết trầy xước da, kích thước (1,3x0,1)cm;
  • Mặt trong 1/3 dưới cánh tay trái có 02 (hai) vết trầy xước, kích thước D1=(2x0,2)cm, D2=(1x0,1)cm;
  • Mặt trước cổ tay trái trầy xước da kích thước (0,6x0,2)cm;
  • Mô cái lòng bàn tay trái bầm tụ máu kích thước (2x1,5)cm;
  • Vùng thắt lưng bên phải có 02(hai) vết trầy xước da kích thước D1=(7x0,5)cm, D2=6,7x0,1)cm;
  • Lưng bên trái có vết trầy xước kích thước (5x0,2)cm;
  • Mu bàn chân phải có dấu bầm, tụ máu không rõ ranh giới;
  • Đầu gối bên trái có vết trầy xước và tụ máu bầm, kích thước (3x2,5)cm.

Tại Kết luận giám định tử thi số 27/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C đối với Trần Thị T2: ở vùng đầu có dấu sưng nề không rõ ranh giới; hai hố mắt quằng bầm tụ máu; bầm tụ máu sau vành tai trái, bầm tụ máu vành tai phải; bầm tụ máu dưới da, cơ đầu rải rát nhiều vùng; xuất huyết dưới màng cứng ở bán cầu não phải, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu; tổ chức phù nề, ở bán cầu não phải tụ máu thành khối. Kết luận giám định mô bệnh học: Não sung huyết, xuất huyết dưới nhện; Da đầu vùng cơ thái dương hai bên: sung huyết, xuất huyết dưới da và trong cơ thái dương. Kết luận, nguyên nhân chết: chấn thương sọ não kín.

Kết luận giám định chất độc số 193/249/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 26/01/2024 của P2 kết luận: mẫu dạ dày, chất chứa dạ dầy và máu: Có tìm thấy chất P1. Ngoài ra, không tìm thấy chất độc.

Kết luận giám định mô bệnh học số 46/KLMBH-PVPYQG ngày 22/02/2024 của P2, kết luận: Não sung huyết, xuất huyết dưới nhện; Da đầu vùng cơ thái dương hai bên: Sung huyết, xuất huyết dưới da và trong cơ thái dương; Da tay hai bên: Sung huyết, xuất huyết dưới da và mô liên kết; Da chân hai bên: Sung huyết, xuất huyết, tụ máu dưới da và mô liên kết; Tim: mô kẽ phù, các mạch máu sung huyết; Gan: sung huyết. Gan thoái hóa mỡ 50%; Phổi: sung huyết.

Kết luận giám định giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 01/KLTgTHS-TTPY ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh C đối với Trần Thị T2, kết luận: Vành tai có vết rách da nhỏ kích thước 0,4cm x 0,3cm, tỷ lệ 01%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; Các vết sưng nề, bầm tụ máu và vết trầy xước da, không xếp tỷ lệ %, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; Gãy mỏm ngang L2, L3 bên trái, tỷ lệ 11%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định của Trần Thị T2 qua hồ sơ là: 12% (mười hai phần trăm).

Kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận khẩu súng gửi giám định không phải súng quân dụng, là súng săn. Hiện tại các bộ của súng hoạt động bình thường, súng sử dụng được.

Quá trình điều tra, Đào Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo Đào Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đào Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” với mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã trả 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04C, màu đen, số IMEI1: 351610267547181, số IMEI2: 351745897547183, kèm sim số 0904817674 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen số seri 357723102510092, kèm sim số 0948059263 cho anh Đào Thanh V đại diện hợp pháp cho bị hại là đúng quy định.
    • Tịch thu tiêu hủy tang vật sau: 01 (một) móc treo dán tường (đã niêm phong); 01 (một) dây buộc tóc bằng vải, màu đen, có dính tóc (đã niêm phong); 01 (một) nhóm sợi tóc (đã niêm phong); 01 (một) nhóm sợi tóc (đã niêm phong); 01 áo sơ mi nam, tay dài màu trắng, có sọc (đã niêm phong); 01 (một) nút áo nhựa, buột chỉ đen (đã niêm phong); 01 nút áo kim loại, màu vàng, đen và một mớ tóc (đã niêm phong); 01 (một) áo thun dài tay, sọc caro vàng, có 06 cúc áo, chỉ còn cúc áo thứ tư màu trắng từ trên xuống (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác dài tay, màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) quần thun dài, hoa văn vàng, nâu, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) áo dài tay màu đỏ, sọc caro, màu trắng đen, bên phải thân áo có dấu rách theo đường chỉ, mặt sau bên trái có vết rách theo đường chỉ ở vai sau và nách, có 04 cúc áo, chỉ còn 02 cúc áo thứ nhất và thứ tư, (đã qua sử dụng); 01 (một) quần hoa văn trắng, đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) quần hoa văn xanh, trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun ngắn tay, hoa văn màu xanh, trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun ngắn tay, hoa văn màu vàng, nâu, đen (đã qua sử dụng); 01 áo vải nữ, dài tay, loại vải thun, nền áo xanh, có nhiều hoa văn màu vàng, đỏ, hiện tại bị mất 02 nút áo tại vị trí thứ 2 và thứ 3 tính từ trên xuống, phía sau áo ghi nhận bị bung chỉ phần nách áo bên trái, không liên tục, dài 12cm, tại lưng áo, bên trái ghi nhận bị bung chỉ dài 09 cm, tại lưng áo bên phải ghi nhận bị bung chỉ dài 11cm, phía sau cổ áo lủng lổ, bung chỉ dài 06cm (đã niêm phong).
    • Tiếp tục giao 01 (một) khẩu súng tự chế dài 116cm, đã qua sử dụng cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế - Ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N quản lý để xử lý theo thẩm quyền.
  • Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • Người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: Về trách nhiệm hình sự: Yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: Về trách nhiệm hình sự: Thống nhất bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Không đồng ý áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Vì khi xảy ra sự việc bị cáo khai báo bị hại bị té xe, bị lên huyết áp nhằm che giấu cho hành vi phạm tội của mình. Về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là chưa phù hợp với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều ra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp; phù hợp với biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định tử thi. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 12/01/2024, bị cáo Đào Thanh T sau khi đi nhậu về thì xảy ra mâu thuẫn cự cải với bị hại T2 dẫn đến hai bên ẩu đả nhau. Bị cáo T dùng tay trái nắm tóc bà T2, dùng tay phải đánh nhiều cái vào mặt, đầu và sau gáy của bà T2 do say rượu nên bị cáo không xác định đánh bao nhiêu cái, sau đó bị cáo đạp vào chân bà T2 làm bà T2 khụy ngồi trên sàn, bị cáo đứng dậy dùng chân phải đá T2, bà T2 chạy vào phòng thì vấp ngạch cửa phòng khuỵ gối tư thế úp trên nền ván trong phòng ngủ. Thấy vậy, bị cáo đỡ bị hại lên giường nằm nghỉ một lúc, không xác định bao lâu bị hại than mệt, bị cáo T cạo gió và bị cáo lấy 01 viên thuốc Paracetamol đưa cho bị hại T2 uống, không bao lâu bị hại nôn ói nên bị cáo có gội đầu cho bị hại, xong thấy bị hại than mệt và khó thở nên bị cáo T gọi điện thoại cho hai người con ruột chở bị hại T2 đi Bệnh viện.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị hại T2 được đưa đến Bệnh viện Đ trong tình trạng hôn mê, thở máy nên Bệnh viện Đ chuyển bà T2 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh C cấp cứu, đến khoảng 04 giờ ngày 13 tháng 01 năm 2024, bị hại T2 tử vong.

Tại kết luận giám định tử thi số 27/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C đối với Trần Hồng T3: ở vùng đầu có dấu sưng nề không rõ ranh giới; hai hố mắt quằng bầm tụ máu; bầm tụ máu sau vành tai trái, bầm tụ máu vành tai phải; bầm tụ máu dưới da, cơ đầu rải rát nhiều vùng; xuất huyết dưới màng cứng ở bán cầu não phải, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu; tổ chức phù nề, ở bán cầu não phải tụ máu thành khối. Kết luận giám định mô bệnh học: Não sung huyết, xuất huyết dưới nhện; Da đầu vùng cơ thái dương hai bên: sung huyết, xuất huyết dưới da và trong cơ thái dương. Kết luận, nguyên nhân chết: chấn thương sọ não kín.

Kết luận giám định chất độc số 193/249/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 26/01/2024 của P2 kết luận: mẫu dạ dày, chất chứa dạ dầy và máu: Có tìm thấy chất P1. Ngoài ra, không tìm thấy chất độc.

Kết luận giám định mô bệnh học số 46/KLMBH-PVPYQG ngày 22/02/2024 của P2, kết luận: Não sung huyết, xuất huyết dưới nhện; Da đầu vùng cơ thái dương hai bên: Sung huyết, xuất huyết dưới da và trong cơ thái dương; Da tay hai bên: Sung huyết, xuất huyết dưới da và mô liên kết; Da chân hai bên: Sung huyết, xuất huyết, tụ máu dưới da và mô liên kết; Tim: mô kẽ phù, các mạch máu sung huyết; Gan: sung huyết. Gan thoái hóa mỡ 50%; Phổi: sung huyết.

Kết luận giám định giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 01/KLTgTHS-TTPY ngày 15/5/2024 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh C đối với Trần Thị T2, kết luận: Vành tai có vết rách da nhỏ kích thước 0,4cm x 0,3cm, tỷ lệ 01%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; Các vết sưng nề, bầm tụ máu và vết trầy xước da, không xếp tỷ lệ %, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; Gãy mỏm ngang L2, L3 bên trái, tỷ lệ 11%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định của bị hại T2 qua hồ sơ là: 12% (mười hai phần trăm).

Như vậy, nguyên nhân chết của bị hại T2 là do chấn thương sọ não kín, do bị cáo T trực tiếp gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị hại trong vụ án không ai khác là vợ của bị cáo, là mẹ ruột của các con của bị cáo, lẽ ra khi xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng, bản thân bị cáo phải biết kiềm chế bản thân và lựa chọn cách cư xử cho phù hợp thì hậu quả đáng tiếc sẽ không xảy ra. Mặc dù, bị cáo không mong muốn bị hại chết nhưng với ý thức, nhận thức của bản thân bắt buộc bị cáo phải biết hành vi dùng tay đánh nhiều cái vào mặt, đầu và sau gáy là vùng xung yếu nhất của cơ thể có thể dẫn đến hậu quả chết người. Chỉ vì tức giận bị hại không đồng ý việc bị cáo đi nhậu mà bị cáo đã đánh bị hại dẫn đến bị hại chết. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 4 điều 134 Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;”.

[3] Xét về tính chất của vụ án:

Hành vi trên đây của bị cáo Đào Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp cho bị hại cho rằng hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì khi sự việc xảy ra bị cáo nói với người nhà là bị hại bị lên huyết áp, bị cáo khai báo với bác sĩ là bị hại bị té xe nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điềm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa bị cáo cho rằng do sợ hãi, sợ Công an bắt không có người chăm lo cho bị hại nên khi xảy ra sự việc bị cáo đã nói dối là bị hại bị lên huyết áp và bị té xe. Xét thấy, lời trình bày của bị cáo là có cơ sở bởi lẽ, tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì trong người bị cáo có chất kích thích (rượu, bia) nên bị cáo không xác định được bị cáo đã đánh bị hại bao nhiêu cái và khi bị hại mệt thì bị cáo cũng sơ cứu, gội đầu và cho bị hại uống thuốc Paractemol, việc bị hại chết là ngoài ý muốn của bị cáo do đó hành vi phạm tội của bị cáo không có tính chất côn đồ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đãthành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác định thương tích trên cơ thể của bị hại và nguyên nhân dẫn đến bị hại chết là do bị cáo gây ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đưa bị hại đi bệnh viện. Mặt khác, bị cáo có cha ruột được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, bác ruột là Liệt sĩ, đồng thời người đại diện hợp pháp cho bị hại là anh Đào Thanh V, anh Đào Thanh N trong quá trình điều tra có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ các căn cứ trên xét thấy, bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 4 điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[5] Đối với 01 (một) khẩu súng tự chế dài 116cm, đã qua sử dụng, thu giữ tại nhà bị cáo. Bị cáo cho rằng được một người bạn tặng để bắn cá.

Căn cứ kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận khẩu súng gửi giám định không phải súng quân dụng, là súng săn, tình trạng sử dụng được. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã làm thủ tục đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân huyện N xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo. Đến ngày 08 tháng 8 năm 2024 Chủ tịch Ủy ban nhân huyện N ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPHC đối với bị cáo T về hành vi tàng trử, sử dụng súng săn, hình thức phạt là phạt tiền, số tiền 15.000.000 đồng là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng:

  • 01 (một) móc treo dán tường (đã niêm phong); 01 (một) dây buộc tóc bằng vải, màu đen, có dính tóc (đã niêm phong); 01 (một) nhóm sợi tóc (đã niêm phong); 01 (một) nhóm sợi tóc (đã niêm phong); 01 áo sơ mi nam, tay dài màu trắng, có sọc (đã niêm phong); 01 (một) nút áo nhựa, buột chỉ đen (đã niêm phong); 01 nút áo kim loại, màu vàng, đen và một mớ tóc (đã niêm phong); 01 (một) áo thun dài tay, sọc caro vàng, có 06 cúc áo, chỉ còn cúc áo thứ tư màu trắng từ trên xuống (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác dài tay, màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) quần thun dài, hoa văn vàng, nâu, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) áo dài tay màu đỏ, sọc caro, màu trắng đen, bên phải thân áo có dấu rách theo đường chỉ, mặt sau bên trái có vết rách theo đường chỉ ở vai sau và nách, có 04 cúc áo, chỉ còn 02 cúc áo thứ nhất và thứ tư, (đã qua sử dụng); 01 (một) quần hoa văn trắng, đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) quần hoa văn xanh, trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun ngắn tay, hoa văn màu xanh, trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun ngắn tay, hoa văn màu vàng, nâu, đen (đã qua sử dụng); 01 áo vải nữ, dài tay, loại vải thun, nền áo xanh, có nhiều hoa văn màu vàng, đỏ, hiện tại bị mất 02 nút áo tại vị trí thứ 2 và thứ 3 tính từ trên xuống, phía sau áo ghi nhận bị bung chỉ phần nách áo bên trái, không liên tục, dài 12cm, tại lưng áo, bên trái ghi nhận bị bung chỉ dài 09 cm, tại lưng áo bên phải ghi nhận bị bung chỉ dài 11cm, phía sau cổ áo lủng lỗ, bung chỉ dài 06cm (đã niêm phong) hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A04C, màu đen, số IMEI1 351610267547181, số IMEI2 351745897547183 kèm theo sim số 0904817674 và 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 105, màu đen số seri 357723102510092 kèm sim số 0948059263 do không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 07/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N trả lại cho anh Đào Thanh V (là con ruột của bị cáo đồng thời là người đại diện hợp pháp cho bị hại) đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Đối với 01 (một) khẩu súng săn, tự chế dài 116cm hiện do Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế - Ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đang lưu giữ, bảo quản nên cần tiếp tục giao cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế - Ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N quản lý để xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định.

[8] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp cho bị hại về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là không được chấp nhận như đã nhận định trên.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng pháp luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo và người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố: Bị cáo Đào Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Đào Thanh T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/01/2024.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu và tiêu hủy các tang vật sau: 01 (một) móc treo dán tường (đã niêm phong); 01 (một) dây buộc tóc bằng vải, màu đen, có dính tóc (đã niêm phong); 01 (một) nhóm sợi tóc (đã niêm phong); 01 (một) nhóm sợi tóc (đã niêm phong); 01 áo sơ mi nam, tay dài màu trắng, có sọc (đã niêm phong); 01 (một) nút áo nhựa, buột chỉ đen (đã niêm phong); 01 nút áo kim loại, màu vàng, đen và một mớ tóc (đã niêm phong); 01 (một) áo thun dài tay, sọc caro vàng, có 06 cúc áo, chỉ còn cúc áo thứ tư màu trắng từ trên xuống (đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác dài tay, màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) quần thun dài, hoa văn vàng, nâu, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) áo dài tay màu đỏ, sọc caro, màu trắng đen, bên phải thân áo có dấu rách theo đường chỉ, mặt sau bên trái có vết rách theo đường chỉ ở vai sau và nách, có 04 cúc áo, chỉ còn 02 cúc áo thứ nhất và thứ tư, (đã qua sử dụng); 01 (một) quần hoa văn trắng, đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) quần hoa văn xanh, trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun ngắn tay, hoa văn màu xanh, trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun ngắn tay, hoa văn màu vàng, nâu, đen (đã qua sử dụng); 01 áo vải nữ, dài tay, loại vải thun, nền áo xanh, có nhiều hoa văn màu vàng, đỏ, hiện tại bị mất 02 nút áo tại vị trí thứ 2 và thứ 3 tính từ trên xuống, phía sau áo ghi nhận bị bung chỉ phần nách áo bên trái, không liên tục, dài 12cm, tại lưng áo, bên trái ghi nhận bị bung chỉ dài 09 cm, tại lưng áo bên phải ghi nhận bị bung chỉ dài 11cm, phía sau cổ áo lủng lổ, bung chỉ dài 06cm (đã niêm phong).
  • Tiếp tục giao 01 (một) khẩu súng săn, tự chế dài 116cm, đã qua sử dụng cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế - Ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N quản lý để xử lý theo thẩm quyền.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Đào Thanh T phải nộp 200.000 đồng.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  • Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Công an huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hồng Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger