TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 31/7/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung,
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;
Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp;
Ông Nguyễn Phan Nam.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 11/2024/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 346/2023/HNGĐ-ST, ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 7742/2024/QĐ-PT, ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thừa Đ, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1969; nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Đỗ Văn M, Luật sư Nguyễn Phi K – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Luật sư M có mặt, Luật sư K vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Cụ Nguyễn Thị B, sinh năm 1941; địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1971; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thừa S, sinh năm 1967; Có mặt.
- Ông Nguyễn Thừa Q, sinh năm 1974; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thừa Q1, sinh năm 1977; Có mặt.
Đều có địa chỉ tại: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương.
- Ông Nguyễn Thừa Q2, sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà F H, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương (đồng thời là đại diện theo ủy quyền của cụ B, bà O, ông S, ông Q, ông Q1). Có mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Mạnh L - Chủ tịch UBND huyện. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Kim S1 - Trưởng phòng Tài chính kế hoạch huyện B (nguyên Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Thừa Đ trình bày:
Ông Đ, bà H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 11/02/1989 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã N, huyện C, tỉnh Hải Hưng (nay là huyện B, tỉnh Hải Dương). Khi đó, ông Đ là sĩ quan quân đội, bà H là nhân viên bán hàng tại thị trấn K. Sau khi kết hôn, ông Đ trở lại đơn vị công tác, còn bà H ở cùng gia đình ông Đ. Năm 1990, bà H chuyển vào miền N ở cùng ông Đ, đến năm 1994 vợ chồng ông bà quay về xã N sinh sống. Vợ chồng ông bà tổ chức cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc đến khoảng năm 2002 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên xảy ra va chạm to tiếng... Năm 2006, bà H đưa con về gia đình nhà ngoại tại thôn D, xã N ở, không quay lại chung sống cùng ông Đ nữa, ông bà ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Ông Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, kéo dài nhiều năm, không còn khả năng hàn gắn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông Đ được ly hôn bà H.
- Về con chung: Ông Đ, bà H có hai con chung là Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1990 và Nguyễn Thừa Đ1, sinh năm 2000 đều đã trên 18 tuổi, trưởng thành nên không đề nghị giải quyết việc nuôi dưỡng.
- Về yêu cầu cấp dường nuôi con chung: Bà H yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi hai con trong thời gian ông bà ly thân đến khi mỗi con chung 18 tuổi, ông Đ xác định khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà H mang hai con chung về ở cùng gia đình nhà ngoại, thời gian đầu ông Đ có gửi đồ cho hai con nhưng bà H khước từ nên sau ông Đ không gửi nữa. Ông Đại thừa N trong thời gian vợ chồng ly thân, một mình bà H nuôi con, ông Đại đồng Ý cấp dưỡng nhưng đề nghị Tòa án xem xét mức độ cho phù hợp điều kiện thực tế do hiện ông Đ không có tài sản, không
có thu nhập ổn định.
- Về quan hệ tài sản: Ông Đ không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bà H yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng 99m² đất tại thửa số 261, tờ bản đồ số 04, 01 nhà cấp 4, công trình phụ; ông Đ xác định tài sản chung vợ chồng chỉ có 01 nhà cấp 4 và công trình phụ xây dựng năm 1996, ông Đ nhất trí chia theo quy định của pháp luật, ông Đ xin nhận hiện vật và trả chênh lệch bằng tiền cho bà H. Riêng quyền sử dụng thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04 là của bố mẹ ông Đ, không phải tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H vì nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông Đ sử dụng ao từ khoảng năm 1960. Việc UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) mang tên ông Đ, bà H trong khi bố mẹ ông Đ không biết, không cho tặng, chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đ, bà H. Cụ B có đơn yêu cầu đòi lại quyền sử dụng thửa số 261, tờ bản đồ số 04 tại xã N, ông Đ nhất trí.
Ông Đ yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xem xét hủy GCNQSD đất đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04, diện tích 99m² do UBND huyện B cấp năm 2003 mang tên ông Đ, bà H để trả lại nguồn gốc đất cho bố mẹ ông Đ.
Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất của ông Đ, yêu cầu đòi đất của cụ B mà xác định đó là tài sản chung của ông Đ, bà H thì ông Đ xin nhận hiện vật và trả chênh lệch cho bà H vì hiện nay ông và mẹ ông đang trực tiếp sinh sống tại nhà đất đó. Ngoài ra ông Đ không có chỗ ở nào khác.
Bị đơn là bà Vũ Thị H trình bày:
Về điều kiện, thời gian kết hôn như ông Đ trình bày là đúng.
Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà ở cùng gia đình ông Đ được khoảng một năm thì chuyển vào miền N, đến năm 1994 vợ chồng ông bà quay về xã N sinh sống. Vợ chồng ông bà tổ chức cuộc sống vui vẻ hạnh phúc đến khoảng năm 2002 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, ông Đ nhiều lần đánh, đuổi bà H ra khỏi nhà. Cuộc sống chung không có hạnh phúc nên bà H đã đưa con về gia đình bố mẹ đẻ tại thôn D, xã N ở từ năm 2006, không quay lại chung sống cùng ông Đ nữa, ông bà ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đã ly thân 20 năm nay, ông Đ xin ly hôn bà H đồng ý.
- Về con chung: Bà H, ông Đ có hai con chung là Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1990 và Nguyễn Thừa Đ1, sinh năm 2000 đều đã trên 18 tuổi trưởng thành nên không đề nghị giải quyết việc nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Năm 2006, bà H, ông Đ chính thức sống ly thân, thực tế trước đó đã nhiều lần bà H mang con về nhà đẻ ở, sau đó lại đoàn tụ, kể từ năm 2005 một mình bà H nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các con trưởng thành, ông Đ không có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng các con. Nay ly hôn, bà H yêu cầu ông Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung từ năm 2005 đến khi mỗi con chung đù 18 tuổi. Bà H xác định chi phí nuôi một con
chung là 2.000.000 đồng/tháng, ông Đ phải có trách nhiệm bằng ½ tức 1.000.000 đồng/con chung/tháng; tính từ năm 2005 đến khi cháu Vân A 18 tuổi (năm 2008) là 36 tháng; đến khi cháu Đ1 18 tuổi (năm 2018) là 156 tháng. Cộng hai con là 192 tháng x 1.000.000 đồng/tháng = 192.000.000 đồng.
- Về quan hệ tài sản: Bà yêu cầu Tòa án chia tài sản chung vợ chồng gồm: Quyền sử dụng 99m² đất tại thửa số 261, tờ bản đồ số 04 xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương theo GCNQSD đất do UBND huyện B cấp ngày 19/5/2003 mang tên ông Đ, bà H; 01 nhà cấp 4 và công trình phụ xây dựng năm 1996. Ngoài ra bà H không yêu câu chia tài sản nào khác.
Nguồn gốc thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04 trước đây là thửa ao số 423, tờ bản đồ số 08, diện tích 180m² thuộc quyền quản lý của Hợp tác xã N2, bên cạnh ao là một gò trồng tre. Thời kỳ đó UBND xã giao khoán màu thửa ao cho ông Nguyễn Thừa V, ông Nguyễn Thừa T, ông Nguyễn Thừa T1 và thu tiền khoán màu hàng năm. Sát thửa ao có đường đi của sân kho hợp tác xã cũ. Còn 22m² (ghi trong sổ mục kê) chính là đất ông T1 lấn chiếm đường đi vào sân kho để làm nhà xí, chuồng trâu.
Năm 1994, thời gian đầu (khi mới ở miền N ra) vợ chồng ông bà ở chung trong một phần gian buồng của bố mẹ chồng ngăn liếp và 01 gian quán nhỏ khoảng 10m². Do nhà đông con, chật chội và quá trình sống chung cùng gia đình chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai bên gia đình động viên để vợ chồng ông bà sang tôn tạo phần ao (khoán màu của Hợp tác xã) để san lấp xây nhà tạm ở riêng. Bà H, ông Đ trực tiếp thuê người vượt lập ao, năm 1996 xây mấy gian nhà nhỏ, công trình phụ, hiện vẫn còn tồn tại.
Năm 2002, UBND huyện B có chủ trương hợp thức hóa quyền sử dụng đất là ao thùng của tập thể ven các trục đường to, chủ trương này được triển khai trên diện rộng tới toàn dân và thửa đất của bà đang quản lý thuộc đối tượng được xem xét để làm thủ tục cấp GCNQSD đất. Bà H trực tiếp làm các thủ tục theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và trực tiếp nộp số tiền 990.000 đồng để được xem xét cấp GCNQSD đất diện tích 99m², bà H đã vượt lập và xây dựng công trình trên đất (lúc đó xã thu 10.000 đồng/m² đất). Ngày 19/5/2003, UBND huyện B cấp GCNQSD đất số vào số 1331 QSDĐ/NQBG, tờ bản đồ số 04, số thửa 261 thời hạn sử dụng lâu dài mang tên ông Đ, bà H. Khi đoàn đo đạc đến kiểm tra hiện trạng, xác định ranh giới có nhiều người trong gia đình ông Đ và các hộ giáp ranh chứng kiến, ông Đ ký chủ đất trong biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất. Trong suốt quá trình gia đình ông bà sử dụng đất không xảy ra khiếu kiện, tranh chấp với ai.
Năm 2006, vợ chồng ông bà ly thân, bà H cho con về gia đình bố mẹ đẻ tại thôn D ở, ông Đ lên Lạng Sơn sinh sống. Nhà đất của ông Đ, bà H hiện tại để không, mẹ đẻ ông Đ là cụ B sang ở và tự ý sửa chữa, làm lán đằng sau khu đất trống, thay cửa xếp.
Bà H xác định thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04, diện tích 99m² đất, trên đất có nhà và các công trình xây dựng là tài sản chung của bà H, ông Đ. Bà có công sức tạo dựng khối tài sản chung nhiều hơn ông Đ do bố mẹ bà H cho cửa, cho
tiền vàng để thuê người san lấp ao và xây nhà, ông Đ và gia đình chồng không hỗ trợ gì. Tuy nhiên, bà H vẫn đề nghị Tòa án chia tài sản chung vợ chồng theo tỷ lệ 50/50, bà H xin được hưởng bằng hiện vật là thửa đất trên có nhà và trả chênh lệch bằng tiền cho ông Đ. Nếu không được chấp nhận thì bà H đề nghị chia đôi đất. Còn các công trình cụ B tự ý tạo lập trên đất như cửa xếp, lán... bà H yêu cầu phá dỡ, không chấp nhận bồi thường.
Đối với yêu cầu hủy GCNQSD đất của ông Đ và yêu cầu đòi lại tài sản của cụ B: Bà H xác định thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04, diện tích 99m² đất là tài sản chung của bà H, ông Đ do bà H, ông Đ sử dụng ao tập thể từ năm 1996, vợ chồng ông bà san lấp, vượt lập ao, thực hiện nghĩa vụ tài chính và hoàn thiện các thủ tục khác để được cấp GCNQSD đất mang tên bà H, ông Đ, không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ B, cũng không phải tài sản có nguồn gốc của gia đình ông Đ. Do vậy, bà H không đồng ý với yêu cầu hủy GCNQSD đất của ông Đ và yêu cầu kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất của cụ B.
Bà yêu cầu chia tài sản là quyền sử dụng 99m² đất tại thửa số 261, tờ bản đồ số 04. Khi xem xét thẩm định thì hiện trạng thửa đất không thay đổi, nhưng tính toán lại diện tích còn 97,1m², bà nhất trí và đề nghị Tòa án căn cứ số liệu hiện trạng để giải quyết vụ án.
- Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Bà yêu cầu ông Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là cụ Nguyễn Thị B trình bày: Cụ B và cụ Nguyễn Thừa T1 sinh được 06 người con, ngoài ra không có con nuôi. Bố mẹ cụ T1 chết trước cụ T1. Năm 1989, ông Đ kết hôn cùng bà H. Trước đây, bố mẹ cụ T1 có sử dụng một phần ao gần nhà. Khoảng năm 1961, bố mẹ cụ T1 chia ao cho các con là T1, T, V; vợ chồng cụ B, cụ T1 được khoảng 100m² ao. Thời điểm đó, ao rất sâu nên hai cụ phải san lấp mới có thể trồng cây cối, xây dựng công trình phụ, chuồng trại chăn nuôi. Do ở chung chật chội, đến khoảng nửa cuối năm 1996, ông Đ đặt vấn đề, được vợ chồng cụ nhất trí cho mượn thửa đất ao trên (khi đó đã san lấp) để xây dựng mấy gian nhà tạm ở, khi nào tạo lập chỗ ở khác thì trả lại đất. Cụ khẳng định từ trước đến nay, vợ chồng cụ chưa bao giờ cho đất vợ chồng ông Đ, cũng chưa bao giờ ký giấy tờ gì có nội dung sang tên quyền sử dụng thửa đất này cho vợ chồng ông Đ. Vợ chồng ông Đ làm nhà ở được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Khoảng năm 2006, bà H cho hai con về nhà ngoại, từ đó đến nay không quay lại sống cùng ông Đ.
Về phía ông Đ, do vợ con bỏ đi, ông Đ cũng chán nản nên thường xuyên đi làm ăn xa. Ông Đ đã bàn giao lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng cụ và nhờ cụ trông nom nhà từ cuối năm 2006. Cụ là người đóng thuế nhà đất trong suốt những năm qua, đồng thời có sửa chữa, cải tạo một số hạng mục công trình trên đất do lâu ngày đã bị hư hỏng, xuống cấp.
Nay ông Đ xin ly hôn, bà H yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04, diện tích 99m² đất nêu trên, cụ B không đồng ý, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà H. Cụ B yêu cầu ông Đ, bà H trả lại diện tích đất trên cho cụ B. Các công trình do vợ chồng ông Đ xây dựng trên đất,
cụ B xin được nhận lại để tiếp tục sử dụng và có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông Đ, bà H theo giá trị của Hội đồng định giá. Cụ B không yêu cầu xem xét công sức vượt lập ao, giá trị các công trình vợ chồng ông Đ đã phá dỡ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị O, Nguyễn Thừa S, Nguyễn Thừa Q, Nguyễn Thừa Q1, Nguyễn Thừa Q2 thống nhất trình bày: Nhất trí quan điểm của cụ B về việc đòi lại quyền sử dụng 99m² đất và quan điểm của ông Đ đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất do UBND huyện B đã cấp cho ông Đ, bà H.
Quan điểm của UBND huyện B đối với yêu cầu hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông Đ, bà H năm 2003: Hiện tại hồ sơ cấp GCNQSD đất của ông Đ, bà H còn lưu tại UBND xã N gồm:
- + Bản đồ địa chính 299 (can vẽ lại năm 1993) thể hiện thửa số 423, tên chủ sử dụng “Hợp tác xã”, diện tích 180m². Không thể hiện thửa 424.
- + Bản đồ địa chính 299 (can vẽ ngày 02/8/1998) + Sổ mục kê 299 đều thể hiện thửa số 423, tên chủ sử dụng “Hợp tác xã”, diện tích 180m². Thửa 424, tên chủ sử dụng “Thất”, diện tích 22m².
- + Hồ sơ cấp GCNQSD đất gồm: Bản đồ địa chính + Sổ mục kê năm 2001 thể hiện thửa 261, tờ bản đồ số 04, diện tích 99m², tên chủ sử dụng “Nguyễn Thừa Đại”; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất có chữ ký của chủ đất “Nguyễn Thừa Đ”.
Hồ sơ đất đai đã thể hiện cơ quan chuyên môn căn cứ bản đồ địa chính lập theo Chỉ thị 299 được can vẽ lại năm 1993 để làm thủ tục xét, cấp GCNQSD đất cho các hộ dân và tại thời điểm xét duyệt thì ông Đ, bà H đang trực tiếp quản lý thửa đất, không có tài liệu nào thể hiện thửa đất cấp cho ông Đ, bà H năm 2003 có nguồn gốc của cụ T1, cụ B; Về trình tự, thủ tục xét duyệt, cấp GCNQSD đất cho ông Đ, bà H tuân thủ các quy định của pháp luật. Do vậy không có căn cứ hủy GCNQSD đất do UBND huyện B cấp cho ông Đ, bà H ngày 19/5/2003 tại thửa số 261, tờ bản đồ số 04 xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 346/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã quyết định:
Áp dụng Điều 55, Điều 59, Điều 62, Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 36 Luật Đất đai năm 1993; Điều 26, Điều 34; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Thừa Đ và bà Vũ Thị H.
- Về quan hệ con chung: Chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của bà Vũ Thị H, buộc ông Nguyễn Thừa Đ phải thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung (Nguyễn Thị Vân A và Nguyễn Thừa Đ1) cho bà Vũ Thị H (kể từ tháng 01/2006 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi) là 137.250.000 đồng.
- Về quan hệ tài sản:
- Không chấp nhận yêu cầu đòi lại quyền sử dụng thửa đất 261, tờ bản đồ số 04 xã N của cụ Nguyễn Thị B.
- Không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSD đất do UBND huyện B cấp cho ông Nguyễn Thừa Đ, bà Vũ Thị H năm 2003 tại thửa số 261, tờ bản đồ số 04 xã N của ông Nguyễn Thừa Đ.
- Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Vũ Thị H. Xác định thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04, diện tích 97,1m² đất tại xã N, huyện B thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Thừa Đ và bà Vũ Thị H.
Giao cho ông Nguyễn Thừa Đ quyền sử dụng 97,1m² đất tại thửa 261, tờ bản đồ số 04 xã N, huyện B, tứ cận: Cạnh giáp đường thôn (A) dài 10,28m; Cạnh giáp anh T2 (A) dài 10m; cạnh phía sau giáp ông N1 (A3-A2) dài 9,69m; cạnh giáp anh K1 (A1) dài 9,38m (có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Giao cho ông Nguyễn Thừa Đ quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp 4, 01 gác xép, mái tôn trước, mái tôn sau, cửa xếp, công trình phụ, bể nước.
Trị giá đất và tài sản trên đất: 745.571.000 đồng.
- Ông Nguyễn Thừa Đ có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho bà Vũ Thị H là 368.905.000 đồng.
- Ông Nguyễn Thừa Đ có trách nhiệm thanh toán cho cụ Nguyễn Thị B và những người thừa kế của cụ T1 (cụ B, bà O, ông Q, ông Q1, ông Q2) giá trị tài sản các cụ tạo lập trên đất là 7.761.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/10/2023, bị đơn là bà Vũ Thị H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về chia tài sản chung với nội dung đề nghị tách đôi thửa đất, chia tài sản chung của vợ chồng bằng hiện vật hoặc đề nghị được nhận tài sản là toàn bộ nhà, đất và trả chênh lệch giá trị tài sản bằng tiền cho ông Nguyễn Thừa Đ; bà H đồng thời không đồng ý việc trả số tiền 7.761.000 đồng giá trị tài sản cụ B, cụ T1 tạo lập trên đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa một phần bản án sơ thẩm về chia tài sản chung theo nội dung đơn kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Bản án sơ thẩm không khách quan, thiên vị; cấp sơ thẩm xác định đất là tài sản chung của hai vợ chồng là có căn cứ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất, không thể xem xét, diện tích đất của vợ chồng ông Đ, bà H tách biệt so với phần đất của cụ B. Cấp sơ thẩm nhận định ông Đ khó khăn và không có nơi ở khác, nhưng ông Đ còn nhiều anh em ở xung quanh, đúng ra phải xác định bà H có hoàn cảnh khó khăn và không có nơi ở khác. Phụ nữ là người yếu thế, không đủ sức khỏe, khả năng xây dựng gia đình mới, cần thiết phải đảm
bảo quyền nhất là chỗ ở cho phụ nữ sau khi ly hôn. Tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H là nhà đất thổ cư, ông Đ, bà H có thể ở chung nhưng không cần tách thửa vẫn đảm bảo quy định pháp luật; Việc tách thửa theo Quyết định của Tòa án là không trái quy định pháp luật; Hoặc có thể chia nhà đất cho bà H, bà H sẽ có trách nhiệm thanh toán giá trị cho ông Đại để bà H có thể đưa các con cháu dâu rể về ở cùng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Vũ Thị H trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về ly hôn, con chung, và tài sản chung của vợ chồng các bên đương sự đều thừa nhận và không có kháng cáo, vì vậy không xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Đối với yêu cầu chia tài sản chung bằng hiện vật cho bà Vũ Thị H là không có cơ sở chấp nhận, bản án sơ thẩm nhận định và quyết định về tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H là phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Quá trình Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm theo thẩm quyền, nguyên đơn là ông Nguyễn Thừa Đ có đơn đề nghị Tòa án xem xét hủy GCNQSD đất do UBND huyện B đã cấp cho ông Đ, bà H năm 2003 đối với thửa đất số 261, tờ bản đồ số 04 xã N, diện tích 99m² đất. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; một số đương sự vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; một số đương sự vắng mặt nhưng không có kháng cáo và đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nên căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn là bà Vũ Thị H, HĐXX thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân, về quan hệ con chung, các bên đương sự không kháng cáo. Đối với quan hệ tài sản, mặc dù yêu cầu hủy GCNQSD đất của ông
Nguyễn Thừa Đ và yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị B không được chấp nhận nhưng ông Đ, cụ B không kháng cáo; bà Vũ Thị H không đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại về tài sản chung, chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phương thức phân chia tài sản chung của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét về phương thức phân chia tài sản chung của Tòa án cấp sơ thẩm mà không xem xét, giải quyết về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung và việc xác định tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H.
[2.2]. Ngày 13/4/2022, Hội đồng định giá xác định giá đất: 7.000.000 đồng/m² x 97,1m² = 679.700.000 đồng; Tài sản trên đất: 01 nhà cấp 4 trị giá 47.710.000 đồng; 01 gác xép trị giá 10.400.000 đồng; Công trình phụ và bể nước đã khấu hao hết, không còn giá trị.
Ngày 10/8/2023, bà H có đơn đề nghị định giá lại quyền sử dụng đất vì theo bà tại thời điểm hiện tại thị trường có biến động, các tài sản khác đề nghị giữ nguyên giá trị. Ngày 18/8/2023, Hội đồng định giá xác định giá đất tại khu vực thôn B vẫn ổn định là 7.000.000 đồng/m².
Cộng tài sản chung vợ chồng: 737.810.000 đồng.
Phần tài sản cụ B tạo lập trên đất: Mái tôn trước: 2.240.000 đồng; cửa xếp: 3.520.000 đồng và mái tôn sau: 2.001.000 đồng; Tổng cộng: 7.761.000 đồng.
Về công sức đóng góp vào khối tài sản chung: Theo bà H, bà có công sức nhiều hơn trong việc tạo lập khối tài sản chung do nhận được sự hỗ trợ của gia đình đẻ nhưng bà đề nghị chia tài sản chung theo tỷ lệ 50/50. Ông Đ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đề xuất của bà H, chia tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H theo tỷ lệ 50/50, mỗi người được hưởng 368.905.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[2.3]. Về phương thức phân chia: Ông Đ, bà H đều xin được nhận hiện vật là đất, nhà và chia chênh lệch tài sản cho bên kia, quan điểm của bà H nếu không được chấp nhận như vậy thì chia đôi đất, bà xin lấy bên có nhà. HĐXX thấy:
- Về phương án chia đất cho hai bên không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ, bởi lẽ theo Quyết định số 12/2022/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 của UBND tỉnh H quy định về điều kiện tách thửa thì diện tích tối thiểu cho mỗi thửa mới được tách ở khu vực nông thôn phải đủ 60m² đất, trong khi đó diện tích đất của ông Đ, bà H là 97,1m² nên không thể tách thửa để chia hiện vật cho cả hai bên.
Việc bà Vũ Thị H cho rằng Tòa án có thẩm quyền chia tách thửa đất không theo hạn mức do UBND tỉnh H quy định theo Quyết định số 12/2022/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 là không phù hợp quy định pháp luật. Bởi lẽ, ngay tại điểm b khoản 7 Điều 13 Quyết định số 12/2022/QĐ-UBND ngày 04/10/2022, UBND tỉnh H có quy định về việc không áp dụng quy định về hạn mức đất ở trong trường hợp “thửa đất được hình thành theo Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân... đã có hiệu lực thi hành trước ngày Quy định này có hiệu lực thi hành”. Tại thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án thì Quyết định số 12/2022/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 của UBND tỉnh H đã có hiệu lực thi hành.
Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định về hạn mức đất ở theo quy định tại Quyết định số 12/2022/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 của UBND tỉnh H để không chia hiện vật cho cả hai bên đương sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Ông Đ, bà H và những người thân thích của ông, bà đều xác định ông, bà sống ly thân từ năm 2006, từ đó đến nay bà H và các con không ở nhà đất này, bà H hiện là lao động tự do, các con của ông Đ, bà H đã trưởng thành, tự lập. Bản thân bà H cũng không có nhu cầu cấp thiết về nơi ở, thể hiện ở việc bà viết trong bản khai ngày 28/3/2023: “Tôi yêu cầu chia bằng hiện vật xin nhận quyền sử dụng đất sau đó tôi sẽ chuyển tặng phần đất của tôi cho con trai tôi là Nguyễn Thừa ĐI”. Thực tế hiện nay cụ B đang trực tiếp ở, bán hàng tại nhà, đất nêu trên; ông Đ ngoài thời gian đi làm tự do, thời gian còn lại sinh sống cùng cụ B. Hơn nữa, mặc dù cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng diện tích 97,1m² đất là tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H, tuy nhiên theo các tài liệu, hồ sơ địa chính thì thửa đất có nguồn gốc sử dụng của bố mẹ ông Đ là cụ B, cụ T1. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự phù hợp quy định tại Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và Gia đình thì Tòa án cấp sơ thẩm giao cho ông Đ quyền sử dụng 97,1m² đất tại thửa 261, tờ bản đồ số 04 và quyền sở hữu các tài sản trên đất gồm 01 nhà cấp 4; gác xép; mái tôn trước, mái tôn sau, cửa xếp; 01 công trình phụ; 01 bể nước mưa. Tổng trị giá: 745.571.000 đồng, ông Đ có trách nhiệm thanh toán trả bà H tiền chênh lệch tài sản là 368.905.000 đồng; ông Đ có trách nhiệm thanh toán trả cụ B và những người thừa kế của cụ T1 (cụ B, bà O, ông S, ông Q, ông Q1, ông Q2) giá trị tài sản gia đình cụ B tạo lập trên đất là 7.761.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật.
[3]. Như vậy, mặc dù có kháng cáo nhưng bà Vũ Thị H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bà H là có căn cứ. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc chia tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H là hợp pháp. Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị H. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Vũ Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Vũ Thị H; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 346/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Bà Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0001233 ngày 19/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Xác nhận bà Vũ Thị H đã thi hành xong án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tuyển |
11
Bản án số 24/2024/HNGĐ-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/10/2023, bị đơn là bà Vũ Thị H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về chia tài sản chung với nội dung đề nghị tách đôi thửa đất, chia tài sản chung của vợ chồng bằng hiện vật hoặc đề nghị được nhận tài sản là toàn bộ nhà, đất và trả chênh lệch giá trị tài sản bằng tiền cho ông Nguyễn Thừa Đ; bà H đồng thời không đồng ý việc trả số tiền 7.761.000 đồng giá trị tài sản cụ B, cụ T tạo lập trên đất.
