TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HNGĐ - ST
Ngày 17/6/2024
“V/v ly hôn giữa chị Nhã
và anh Dũng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Đỗ Ngọc Thắng
2. Ông Nguyễn Văn Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 17/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu N, năm 1995
Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn D, sinh năm 1992
Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện Y, Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 05/12/2023, bản tự khai ngày 28/02/2024, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N trình bày: Chị và anh Đỗ Văn D kết hôn với nhau ngày 15/9/2014 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B, huyện Y. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn do anh D chơi bời, bỏ bê công việc, không chịu làm ăn để ổn định kinh tế gia đình, vợ chồng thường cãi cọ và xúc phạm nhau. Năm 2023 anh D còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn tình với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh D.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2024, bị đơn là anh Đỗ Văn D thừa nhận thời gian và điều kiện kết hôn như chị N khai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì có mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, hay cãi nhau. Tuy nhiên, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh vẫn còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Cả hai anh chị đều trình bày, vợ chồng có 2 con chung, con lớn là Đỗ Yến N1, sinh ngày 06/11/2015, con nhỏ là Đỗ Thị Tường V, sinh ngày 18/01/2018. Khi ly hôn, cả hai đều anh chị đều yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Anh chị đều đề nghị được tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn nuôi cả hao con chung. Nếu chỉ được nuôi một con chung thì chị N2 yêu cầu nuôi con nhỏ. Bị đơn là anh Đỗ Văn D vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn anh Đỗ Văn D.
- - Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu N nuôi dưỡng con chung Đỗ Thị Tường V, sinh ngày 18/01/2018; Giao cho anh Đỗ Văn D nuôi con chung Đỗ Yến N1, sinh ngày 06/11/2015. Cấp dương nuôi con không đặt ra.
- + Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Đỗ Văn D đều cư trú trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù bị đơn là anh Đỗ Văn D vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên cần áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh D.
[3]. Xem xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu N xin ly hôn anh Đỗ Văn D: Chị N và anh D kết hôn với nhau ngày 15/9/2014 dựa trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù anh chị có thời gian dài chung sống hòa thuận và đã có 2 con chung nhưng do bất đồng quan điểm sống, hay cãi cọ nhau nên mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra từ năm 2023. Cho đến nay, anh D không có biện pháp tích cực nào để cải thiện tình cảm vợ chồng, mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng anh D không đến tham gia phiên hoà giải, không đến tham gia phiên toà, chứng tỏ anh D không thiết tha với nguyện vọng đoàn tụ. Chị N vẫn cương quyết xin ly hôn. Vì vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh D.
[4]. Về con chung: Anh chị có 2 con chung là Đỗ Yến N1, sinh ngày 06/11/2015 và Đỗ Thị Tường V, sinh ngày 18/01/2018. Khi ly hôn, mặc dù cả hai đều anh chị đều yêu cầu được nuôi cả hai con chung nhưng xét thấy để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của anh chị trong việc nuôi con chung, cần giao cho anh chị mỗi người nuôi 1 con chung, giao cho chị N nuôi con nhỏ là Đỗ Thị Tường V, sinh ngày 18/01/2018, giao cho anh D nuôi con Đỗ Yến N1, sinh ngày 06/11/2015 là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị đều không yêu cầu nên anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau cho đến khi các đương sự có yêu cầu.
[5]. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí: Chị N không thuộc diện được miễn nộp án phí nên chị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn anh Đỗ Văn D.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu N nuôi con Đỗ Thị Tường V, sinh ngày 18/01/2018; giao cho anh Đỗ Văn D nuôi con Đỗ Yến N1, sinh ngày 06/11/2015. Anh D1 và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau cho đến khi đương sự có yêu cầu.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị Thu N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị N đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004807 ngày 15/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (xác nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 24/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Nhã Dũng
