|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 20/06/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Ngọc Trung, ông Hoàng Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 24/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/HSST-QĐ ngày 31/05/2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN ĐÌNH PHÓNG
- Sinh năm 1976, tại xã B, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Khu D, Thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Việt M và bà Nguyễn Thị M1; Bị cáo có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 2007 (Đã chết), con nhỏ sinh năm: 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 31/5/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về nhập cảnh”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/05/2023), bị cáo đã chất hành xong ngày 31/5/2024. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi cư trú số 20/2024/LC- TA ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt);
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Chị Lê Thị H - Sinh năm: 1980. Địa chỉ: Khu D, Thị trấn Q, huyện Q, Thanh Hóa (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1, Bà Hoàng Thị H1 - Sinh năm: 1972 (vắng mặt có lý do). Địa chỉ: Khu D, Thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
2, Anh Hà Văn C - Sinh năm: 1996 (có mặt). Địa chỉ: bản Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Anh Hà Văn G - Sinh năm: 1994 và anh Hà Văn T - Sinh năm: 1996. Đều có địa chỉ: bản Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Đều vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h56 ngày 27/03/2023, bị cáo điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 37LA-00753, chở theo Lê Ngọc T1 (sinh năm 2007, là con gái của bị cáo) theo hướng từ khu phố C đến khu phố D, thị trấn H, huyện Q. Khi đi đến đoạn Km 57+ 900 Quốc lộ A thuộc địa phận Khu D, thị trấn H thì bị cáo bật xi nhan trái chuyển hướng rẽ sang ngang phần đường bên trái để qua đường, khi đang sang đến phần đường bên trái thì bị xe moto biển kiểm soát 36H5-03259, do anh Hà Văn C điều khiển chở theo Hà Văn G, sinh năm 1994 và Hà Văn T, sinh năm: 1996 (đều trú tại: bản Đ, xã P, huyện Q) đang đi theo hướng từ khu phố E lên khu phố D va vào hông bên phải xe gắn máy do bị cáo điều khiển. Hậu quả, làm cháu Lê Ngọc T1 bị hất văng ngã xuống đường dẫn đến tử vong, Nguyễn Đình P bị xây xát nhẹ; Hà Văn C, Hà Văn G, Hà Văn T bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Q.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi. Kết quả khám nghiệm thể hiện:
Kết quả khám nghiệm hiện trường (vào hồi 22h30 cùng ngày):
Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường nhựa thuộc Km 57+900 Quốc lộ A. Đoạn đường phẳng, rộng 9,9m, có vạch kẻ nét đứt màu vàng. Tiến hành khám nghiệm phát hiện:
- + Chùm vết chất lỏng nhỏ giọt (dạng máu) bám dính mặt đường, không rõ hình; vết dài 8,6m, nơi rộng nhất 44cm có chiều Đông Nam đến T;
- + Vết cà trượt không liên tục, dài 9,3m, nơi rộng nhất có khoảng cách 20cm, có chiều từ Đông Nam đến T;
- + Xe gắn máy biển kiểm soát 37LA-00753 nằm nghiêng trái, đầu xe hướng Đông Nam, đuôi xe hướng T;
- + Xe moto biển kiểm soát 36H5-03259 nằm phải, đầu xe hướng T, đuôi xe hướng Đông Nam
Điều kiện khám nghiệm: Trời tối, ánh sáng đèn điện phục vụ quá trình khám nghiệm.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe gắn máy biển kiểm soát 37LA-00753 xác định:
- + Bàn để chân bên phải có các vết tỳ trượt làm mài mòn kim loại, bám dính chất màu đen dạng cao su; hiện tại bàn để chân gập vào trong. Ốp hông xe bên phải tương ứng dưới ghế ngồi bị gãy vỡ, bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su. Mặt ngoài cần khởi động có vết tì trượt làm mài mòn sơn, bám dính chất màu trắng dạng bột đá.
- + Càng đạp chân trống giữa có vết cà trượt làm mài mòn kim loại, bám dính chất màu trắng dạng bột đá. Mặt ngoài ốp hộp xích có vết cà trượt làm mài mòn kim loại, bám dính chất màu trắng dạng bột đá. Hiện tại xe ở chế độ xi- nhan trái
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe moto biển kiểm soát 36H5-032.59 xác định:
- + Cụm đèn pha trước, mặt nạ, yếm phải, chắn bùn trước bị gãy vỡ, kích thước (60x42) cm. Càng phải bị xô lệch từ trước về sau, từ trái sang phải. Điểm nối giữa hai càng trước và trục trên có vết nứt gãy ;
- + Vành trước bị gãy, móp méo, kích thước 15x6 cm; và vết gãy vỡ, bung rời kích thước 16,4x17 cm;
- + Đầu mút trong phanh phải có vết cà trượt làm mòn sơn kim loại. Đầu mút bàn để chân trước phải bám dính chất màu trắng dạng bột đá, chất màu nâu đỏ dạng đất; Mặt lăn lớp trước bám dính chất màu xám bạc dạng sơn
- + Hệ thống điều khiển, đèn còi bị hư hỏng nặng
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1391/GÐPY- PC09 ngày 10/04/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T xác định:
- + Khám bên ngoài: Mũi miệng có dịch bọt màu hồng bám dính. Xây xước da không rõ hình thù tại các vị trí: tai phải, thái dương phải, trán trái, gò má trái, mặt mu các ngón bàn tay phải, tay trái, vùng cổ, mặt sau ngoài đùi phải, cẳng chân phải, mu bàn chân trái.
- + Khám bên trong: Tổ chức da dầu vùng trán trái, thái dương chẩm, cơ thái dương hai bên tụ máu. Vỡ xương hộp sọ vùng thái dương hai bên. Tụ máu dưới màng cứng rải rác bán cầu đại não hai bên, tụ máu lan toả màng mềm bán cầu đại não hai bên. Não thất bên chứa dịch máu.
Kết luận nguyên nhân tử vong: Vỡ xương hộp, tụ máu não.
Đối với các thương tích của Hà Văn C, Hà Văn T, Hà Văn G: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tuy nhiên, những người này đều có Đơn đề nghị từ chối giám định thương tích. Cơ quan điều tra đã ban hành và tổ chức thi hành Quyết định dẫn giải đối với các đối tượng trên, nhưng các đối tượng này đều không chấp hành nên không có căn cứ xác định tỉ lệ phần trăm thương tích của những người trên.
Kết quả giám định các nội dung khác:
- + Tại bản Kết luận giám định số 4259/KL-KTHS ngày 24/11/2023, Phòng K - Công an tỉnh T xác định: Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (2), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường; thuộc phần đường bên phải theo hướng từ khu 5 đi khu C Thị trấn H.
- + Tại bản Kết luận giám định số 2392/KL-KTHS ngày 23 tháng 06 năm 2023, Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video (ghi lại hình ảnh camera tại thời điểm trước và trong khi va chạm) của 01 USB gửi giám định. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện.
- + Tại bản Kết luận giám định số 1405/KL-KTHS ngày 10 tháng 04 năm 2023, Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Hà Văn C gửi giám định có nồng độ cồn là 160,18 mg/100ml máu. Mẫu máu của Nguyễn Đình P gửi giám định không có nồng độ cồn.
- + Tại bản Kết luận giám định số 2415/KL-KTHS ngày 13/04/2023, V - Bộ C1 kết luận: Không tìm thấy mẫu ma tuý trong mẫu máu ghi thu của Hà Văn C và Nguyễn Đình P gửi giám định
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/HĐĐGTS ngày 15/05/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Q kết luận:
- +01 xe moto biển kiểm soát 36H5-03259 mang tên Hà Văn C, đã qua sử dụng, bị hư hỏng các bộ phận, phụ tùng có giá trị thiệt hại bằng tiền là 4.000.000₫ (bốn triệu đồng);
- + 01 xe gắn máy biển kiểm soát 37LA-00753, đăng kí mang tên Đào Thị X, đã qua sử dụng, bị hư hỏng các bộ phận, phụ tùng có giá trị thiệt hại bằng tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng)
Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về các Kết luận giám định, Kết luận định giá.
Ngày 19/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình P.
Trong giai đoạn truy tố và chuẩn bị xét xử, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại giao nộp bổ sung các tài liệu gồm: 01 Đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, 01 Bản thoả thuận bồi thường số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), 01 Đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện bị hại, 01 Đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Ban quản lý khu phố.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Tối ngày 27/03/2023, bị cáo điều khiển xe gắn máy mang biển kiểm soát 37LA- 00753 (mượn của chị Hoàng Thị H1 là hàng xóm) chở con gái là Lê Ngọc T1 đi từ sân vận động huyện Q về đến nhà. Khi đi đến khu vực Khu D, Thị trấn H; lúc này bị cáo muốn mua trà sữa cho con gái nên bị cáo nhìn sang phần đường bên trái ở khu vực trước cửa quán trà sữa “Mon Mon” thì thấy vắng người, đồng thời bị cáo nhìn về hướng ngược chiều thấy có ánh đèn xe máy; nhưng thấy xe máy còn ở xa nên bị cáo bắt đầu bật xi nhan trái rồi điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái sang phần đường ngược chiều. Khi rẽ sang đến phần đường bên trái thì bất ngờ bị xe máy biển kiểm soát 36H5-032.59 do Hà Văn C điều khiển va vào hông xe bên phải xe bị cáo. Hậu quả dẫn đến cháu Lê Ngọc T1 tử vong.
Tại phiên toà, người đại diện theo pháp luật (mẹ đẻ) của bị hại chị Lê Thị H có ý kiến: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình anh Hà Văn C đã bồi thường cho gia đình chị số tiền là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Đình P đã bồi thường cho chị số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Chị có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H1 trình bày: Vào ngày 27/03/2023, bà có cho anh Nguyễn Đình P mượn xe gắn máy mang biển kiểm soát 37LA- 00753 (đăng kí mang tên Đào Thị X, là tài sản của con dâu đang giao lại cho bà quản lý) để đón con gái. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Điều tra đã hoàn trả lại chiếc xe cho bà H1; bị cáo đã có trách nhiệm khắc phục hậu quả, sửa chữa các thiết bị hư hỏng của xe. Bà không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn C và những người làm chứng, gồm anh Hà Văn T, Hà Văn G thống nhất trình bày: Tối ngày 27/03/2023, anh C, anh T, anh G ăn cơm uống rượu ở nhà anh T. Khoảng 21h, anh C điều khiển xe máy biển kiểm soát 36H5- 03254, đi theo hướng từ P lên thị trấn H, phía sau chở theo T và anh G. Đến khu vực khu D, thị trấn H thì xe moto va chạm với xe gắn máy đi ngược chiều. Hậu quả làm cháu Lê Ngọc T1 tử vong và cả ba người đều bị thương. Các anh T, G, C đều không đồng ý giám định thương tích.
Tại phiên tòa, anh C đã chia sẻ với gia đình bị hại về việc cháu T1 tử vong là điều không ai mong muốn, mong gia đình bớt đau thương. Đối với chiếc xe moto biển kiểm soát 36H5-03254 anh C đã được Cơ quan điều tra trả lại và không có ý kiến gì về việc bồi thường thiệt hại.
Vật chứng của vụ án gồm có:
- + 01 xe gắn máy biển kiểm soát 37LA-007.53 đăng kí mang tên Đào Thị X; đã qua sử dụng.
- + 01 xe moto biển kiểm soát 36H5-03259 đăng kí mang tên Hà Văn C, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q trả lại cho các chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT- VKS- QH ngày 22/04/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015;
Xử phạt bị cáo P từ 12 đến 15 tháng tù, thời gian chấp hành tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tram truy tố đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định, Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy:
- + Bị cáo có lời khai: “...tôi nhìn sang phần đường bên trái...thấy vắng người, đồng thời tôi nhìn về hướng ngược chiều thấy có ánh đèn xe máy nhưng thấy xe máy còn ở xa, nên lúc này tôi bắt đầu bật xi nhan trái của xe gắn máy rồi điều khiển xe bắt đầu chuyển hướng rẽ trái...” (bl 229). Phù hợp với nội dung Biên bản khám nghiệm hiện trường (sau thời điểm tai nạn 30 phút) thể hiện: “...Điều kiện về thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời tối, có ánh sáng đèn điện...” (Bl 03). Như vậy, trước khi chuyển hướng rẽ trái, bị cáo đã có đủ điều kiện khách quan về ánh sáng, thời tiết; cũng như điều kiện chủ quan về tri giác, thời gian để quan sát, phát hiện các phương tiện giao thông di chuyển ngược chiều.
- + Tại bản Kết luận giám định số 4259/KL-KTHS ngày 24/11/2023, Phòng K - Công an tỉnh T xác định: “Vị trí va chạm giữa hai phương tiện ... thuộc phần đường bên phải theo hướng từ khu 5 đi khu C Thị trấn H” (thuộc phía trái đường theo hướng di chuyển của bị cáo). “...dấu vết trên hai phương tiện cho thấy các dấu vết có chiều từ trước về sau và đều ở bên phải mỗi xe...” - Bl 82-83. Phù hợp với nội dung hình ảnh trích xuất từ camera (bl 74) thể hiện tại thời điểm 21:56:00, bị cáo đang di chuyển sang phần đường bên trái.
-
+ Tuy nhiên, do quá tự tin về việc hậu quả nghiêm trọng không xảy ra; nên bị cáo vẫn điều khiển phương tiện chuyển hướng rẽ trái. Dẫn đến việc hai xe va chạm với nhau và làm cháu Lê Ngọc T1 tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ:
“Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”
[3] Xét hậu quả của hành vi phạm tội:
- + Hành vi của bị cáo là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp dẫn đến cháu Lê Ngọc T1 (cũng là con gái của bị cáo) tử vong. Ngoài ra, còn gây thiệt hại hư hỏng về tài sản hai chiếc xe máy có tổng giá trị thiệt hại là: 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Tuy nhiên, thiệt hại về tài sản này chưa đủ cấu thành tội phạm theo khoản 1 Điều 260 BLHS
- + Đối với thương tích của các anh Hà Văn C, Hà Văn G, Hà Văn T: Những người này đều có đơn đề nghị từ chối giám định, không chấp hành quyết định dẫn giải nên không có căn cứ xác định tỉ lệ thương tích, không đủ căn cứ xử lý về hình sự
Từ những phân tích trên, đã đủ cơ sở nhận định: Bị cáo có hành vi chuyển hướng xe khi không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn dẫn đến làm cháu Lê Ngọc T1 tử vong là đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định tội “Làm chết người” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ; gây tai nạn làm chết người. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
- + Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho gia đình bị hại và khắc phục hậu quả, sửa chữa chiếc xe máy của bà Hoàng Thị H1. Ngoài ra, đại diện bị hại và đại diện Ban quản lý khu phố cũng có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
-
+ Xét đơn xin miễn trách nhiệm hình sự của bị hại đối với bị cáo (BL 246): khoản 3 Điều 29 BLHS quy định:
“Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông có khách thể chính là an toàn, trật tự công cộng, đối với tính mạng, sức khỏe của người khác chỉ là khách thể phụ. Do đó, bị cáo không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định nêu trên. Tuy nhiên, đây cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt chính:
- + Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về nhập cảnh”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/05/2023).
- Căn cứ hướng dẫn tại M, Phần I, Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30 tháng 06 năm 2020 của Tòa án nhân dân tối cao, và quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán thì bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo. Do đó cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội.
- + Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán thì phần hình phạt của bản án này không được tổng hợp với phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 31/05/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn.
- + Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, đồng thời người bị hại cũng là người thân thích của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn, có xác nhận của UBND thị trấn H nên Hội đồng xét xử chỉ áp dụng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt đối với bị cáo, là thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu án tích đối với bản án này.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không thuộc trường hợp phải áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS.
[7] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 123 BLTTHS; Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án, cho đến khi bị cáo bị đưa đi chấp hành án.
[8] Về bồi thường dân sự:
- + Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, đại diện bị hại không có ý kiến gì thêm nên HĐXX không xem xét;
- + Đối với Giấy nhận tiền lập ngày 25/05/2023 giữa gia đình chị Lê Thị H và gia đình anh Hà Văn C (bl 213): Xét thấy thỏa thuận giữa hai gia đình không liên quan đến nội dung vụ án, nên HĐXX miễn xét;
- + Đối với giá trị thiệt hại, hư hỏng của 02 chiếc xe máy tương đương 7.000.000đ (bảy triệu đồng): Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hà Văn C, bà Hoàng Thị H1 đều không có yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[9] Về các tình tiết khác trong vụ án:
-
+ Đối với hành vi điều khiển xe của Hà Văn C: Tại bản Kết luận giám định số 2392/KL-KTHS ngày 23/06/2023, Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video (ghi lại hình ảnh camera tại thời điểm trước và trong khi va chạm) của 01 USB gửi giám định. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện.
Ngoài ra, tại thời điểm va chạm Hà Văn C đang điều khiển phương tiện đi đúng phần đường của mình. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với hành vi của C.
- + Các vi phạm khác của Hà Văn C, Hà Văn G, Hà Văn T gồm: Điều khiển xe moto mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, chở quá số người quy định, không đội mũ bảo hiểm, điều khiển moto không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực đều không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả trong vụ án; mà chỉ là lỗi hành chính. Cơ quan điều tra đề nghị chuyển Công an huyện Q xử phạt hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 xe máy, 01 xe moto đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên: Bị cáo Nguyễn Đình P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2. Xử phạt : Bị cáo tháng 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo không phải chịu án tích.
3. Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án; cho đến khi bị cáo bị bắt đi thi hành án
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm ngày); kể từ ngày tuyên án/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |
11
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Vi Ngọc Trung |
Hoàng Văn Hùng |
Ngô Thị Thanh |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Phóng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
