Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM BÔI

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HSST

Ngày 23 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Chương.

Các hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Nghiệp; ông Bùi Văn Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Thuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thuỷ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/HSST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 08/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

BÙI VĂN DANH, sinh ngày 29/10/2004; Trú tại: xóm S, xã V, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Bùi Văn S, (sinh năm 1980), con bà Bạch Thị T (sinh năm 1985); Vợ, con: chưa có; gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án: không.

Tiền sự: không.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Bùi Văn S, sinh năm 1980 (bố đẻ bị cáo – có mặt);
  • - Bà Bạch Thị T, sinh năm 1985 (mẹ đẻ bị cáo – có mặt).

Đều trú tại: xóm S, xã V, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Đình H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. (có mặt).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình.

(Được trích xuất có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 23/01/2024 Bùi Văn D (là đối tượng sử dụng chất ma tuý) đi chơi tại khu vực Suối Khoáng thuộc địa phận khu M, thị trấn B, huyện K tại đây D gặp một nam thanh niên mà trước đó D đã gặp một vài lần nhưng không biết tên tuổi địa chỉ người này ở đâu. Qua nói chuyện biết D sử dụng ma túy, nên hỏi D “có hàng không thì bán lại cho tao tí” (ý hỏi D có ma túy thì bán cho người này), D nói “không có nhưng để mai đi lấy” (ý D nói mai đi mua ma túy về sẽ bán cho nam thanh niên này). Sau đó, nam thanh niên này đi đâu D không biết, còn D đi về nhà mình. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/01/2024 D điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 28B1-40589 đi từ nhà ra khu vực Đại Lộ T thuộc địa phận huyện Q, thành phố Hà Nội. Tại đây D gặp một người đàn ông lạ mặt, giống người nghiện ma túy nên D dừng xe hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng). Khi mua được ma túy Danh cầm ma túy ở trên tay và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Danh cầm số ma túy mua được từ sáng và đi bộ trên đường A hướng về S, TT Bo, huyện K để tìm gặp nam thanh niên đã hỏi mua ma túy của Danh từ tối hôm trước để bán số ma túy trên cho nam thanh niên này để kiếm lời. Nhưng trên đường đi bán ma túy thì D bị Tổ công tác của Công an huyện K bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện K ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy bắt quả tang thu giữ của Bùi Văn D. Tại Bản kết luận giám định số: 96/KL- KTHS ngày 31 tháng 01 năm 2024, của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong một mặt ghi: “Chất nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn D” gửi giám định có tổng khối lượng 0,13 g (không phẩy mười ba gam) là ma túy, loại Heroine; Heroine nằm trong danh mục IA, số thứ tự 09, Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ

Vật chứng trong vụ án gồm:

  • - 01 (Một) gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng là ma túy Heroine thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn D ngày 24/01/2024 đã được chuyển đến C1 xử lý;
  • - 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đen, xe không có gương chiếu hậu, biển kiểm soát: 28B1- 40589 chủ sở hữu là bà Bạch Thị T (mẹ đẻ của bị cáo). Quá trình điều tra xác định vào ngày 24/01/2024 bị cáo hỏi mượn bà T nói là đi chơi bà T đã đồng ý cho mượn xe và hoàn toàn không biết việc D sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Do đó Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho bà Bạch Thị T là phù hợp.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y02A, màu xanh- đen, số sê ri: 10HD4D02DT000DZ, bên trong chứa sim số 0376506580, điện thoại đã qua sử dụng. Đây là điện thoại của ông Bùi Văn S (bố ruột của Bùi Văn D). Chiếc điện thoại trên ông S cho Bùi Văn D mượn để liên lạc khi đi làm xa nhà. D chỉ sử dụng chiếc điện thoại trên vào việc liên lạc hằng ngày và không sử dụng chiếc điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại chiếc điện thoại trên cho ông Bùi Văn S.

Đối với đối tượng hỏi mua ma túy với D ngày 23/4/2024 và người đàn ông đã bán ma túy cho D ngày 24/01/2024: Qua lời khai của D cùng kết quả điều tra xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch, do đó chưa có căn cứ để xử lý.

Bản cáo trạng số 14/CT – VKS ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi truy tô Bùi Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử Tuyên bố bị cáo Bùi D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn D từ 26 (hai mươi sáu) đến 28 (hai mươi tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị HĐXX:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong một mặt ghi Mẫu vật còn lại sau khi giám định vụ Bùi Văn D tại mép có dấu tròn đỏ niêm phong của phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn D từ 24 (hai mươi bốn) đến 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nhất trí với ý kiến của người bào chữa, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1}Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

{2}Về hành vi của bị cáo xét thấy: Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định:

Sáng ngày 24/01/2024 D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 28B1-40589 đi từ nhà ra khu vực đại lộ T thuộc địa phận huyện Q, Thành Phố Hà Nội mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Danh cầm số ma túy trên đi bộ trên đường A hướng về S, thị trấn B, huyện K tìm gặp nam thanh niên trước đó hỏi mua ma túy của D để D bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an huyện K bắt quả tang với tổng khối lượng 0,13 gam ma túy loại Heroine. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi đã truy tố theo khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy mà Nhà nước nghiêm cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ, không những ảnh hưởng đến sức khỏe con người, kinh tế mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến nhều loại tội phạm khác.

{3} Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

{4} Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo sinh sống ở địa phương có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ông nội bị cáo đưởng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, nhì, ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

{5}Về vật chứng của vụ án: Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi là có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.

{6} Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/01/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong một mặt ghi Mẫu vật còn lại sau khi giám định vụ Bùi Văn D tại mép có dấu tròn đỏ niêm phong của phòng K Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong có tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn D phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sư thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Kim Bôi;
  • - Công an huyện Kim Bôi;
  • - THA DS huyện Kim Bôi;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Văn Chương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

Bùi Văn Phương Bùi Văn N

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Bùi Văn C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 24/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÙI VĂN D PHẠM TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger