Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 19 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Tiến Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Xuân Toàn.

Ông Siu Thun Phrao.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thành Long, thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Trí, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị D

  • Sinh năm 1968 tại huyện H, Bình Định.
  • Nơi thường trú: Thôn P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
  • Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); Bị cáo có chồng là Trịnh Văn N, sinh năm 1962 và 02 người con (lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1996).
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1947; Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Ksor M1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Ông Kpuih B, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  3. Tôn Thái Đ, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Rơ Mah M2. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 30 ngày 14/01/2024 Nguyễn Thị D đi bán hàng tại chợ xã I, huyện C, đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày D về lại nhà của ông Nguyễn Hữu L (SN 1947) tại thôn H, xã I huyện C (đây là nơi mà D thường xuyên qua lại và sinh sống với ông L) lúc này không có ông L ở nhà. Trong thời gian qua lại với ông L nên D biết nơi tập kết và cất giữ mủ cao su của ông L đã khai thác trước đó. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày D gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị T1 (SN 1985, trú tại thôn P, xã I) là người chuyên thu mua mủ cao để hỏi chị T1 có còn thu mua mủ cao su không thì chị T1 hỏi lại “mủ ở đâu”, D nói “ ở trong đồi đất đỏ” nghe vậy thì chị T1 nói “nếu chị chở ra thì em mua”, D nhờ chị T1 tìm thuê người có xe chở mủ cao su thì chị T1 cho Danh số điện thoại của anh Kpuih B ( SN 1992, trú tại thôn K, xã I), D gọi điện thoại và trao đổi và nhờ anh B tìm thuê thêm 02 người nữa đi bốc và chở mủ cao su cho D thì được anh B1 đồng ý. Sau đó anh B cùng với anh Ksor M1 (sinh năm 1994, trú tại thôn K, xã I) và anh Tôn Thất Đ1 (Sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã I) điều khiển xe máy kéo nhỏ (xe công nông) đến điểm tập kết mủ cao su trong vườn cao su của ông Nguyễn Hữu L tại thôn H, xã I để lấy mủ cao su. Khi đến nơi theo sự chỉ dẫn của D thì anh B, M1 và Đ1 đổ các cục mủ cao su đông tạp ra khỏi thùng nhựa rồi bốc bỏ lên thùng xe máy kéo nhỏ, sau khi đã lấy 17 cục mủ cao su đông tạp có tổng trọng lượng là 974 kg thì D nói dừng lại không bốc nữa. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày D dẫn anh Đ1 điều khiển xe chở số mủ cao su trên đi ra đường hướng về phía xã I, khi đang trên đường đi (cách điểm tập kết mủ cao su khoảng gần 100m) thì bị ông L đi về phát hiện, sau đó trình báo sự việc đến Cơ quan Công an (BL 70-> 110).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 21/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thực tế của 974 Kg mủ cao su đông tạp là 12.175.000 đồng.

Về vật chứng vụ án, tài sản thu giữ:

Đối với 974 kg mủ cao su đông tạp, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hữu L, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 10 ngày 28/02/2024 giao trả tài sản trên cho ông L.

Đối với 01 chiếc xe máy kéo nhỏ ( xe công nông), đầu máy nổ hiệu SAMDI màu đỏ, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định được đây là tài sản hợp pháp của ông Rcõm D1. Vào ngày 14/01/2024 Ksor M1 đã tự ý lấy xe để đi chở thuê mủ cao su cho D, ông Rcom D2 hoàn toàn không biết. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 07 ngày 19/01/2024 giao trả tài sản trên cho ông Rcõm D1.

Về dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra ông Nguyễn Hữu L yêu cầu Nguyễn Thị D phải bồi thường thiệt hại do hao hụt mủ cao su với số tiền là 4.000.000 đồng. D đã bồi thường cho ông L được số tiền là 1.800.000 đồng, số tiền còn lại là 2.200.000 đồng ông L tiếp tục Danh phải bồi thường thêm. Đến nay bị cáo đã bồi thường xong.

Các vần đề khác:

Đối với Nguyễn Thị T1: Nguyễn Thị D trước khi thực hiện hành vi trộm cắp thì không bàn bạc, không hứa hẹn hay trao đổi bất kỳ lợi ích gì với T1, lúc trao đổi qua điện thoại T1 chỉ biết D có mủ cao su và muốn bán cho T1 thì T1 đồng ý mua, D cũng không nói cho T1 biết nguồn gốc mủ cao su và khi được D nhờ kiếm xe công nông để thuê chở mủ cao su thì T1 cho Danh số điện thoại của anh Kpuih B là người thường xuyên chở mủ cao su thuê. sau đó D tự liên hệ thuê xe chở mủ. Vì vậy hành vi của chị T1 không đồng phạm với D về hành trộm cắp và cũng không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, cho nên không đề cập xử lý.

Đối với Kpuih B, Ksor M1Tôn Thất Đ1: là những người được D thuê để bốc và chở mủ cao su, qua trình điều tra đã xác định được Kpuih B, Ksor M1Tôn Thất Đ1 chỉ được D thuê và làm theo sự chỉ dẫn của D, những người này cho rằng số mủ cao su trên là của D mà không biết đây là tài sản của ông L, vì vậy không có sở để xử lý với vai trò đồng phạm trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Danh t 06 đến 09 tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị D.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Những người tham gia tố tụng khác: bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận: Do có mối quan hệ tình cảm với ông L, nên bị cáo biết tại vườn cao su của nhà ông L có tài sản là các cục mủ cao su. Nên vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 14/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị D đã đến nhà anh L, lúc này anh L không có ở nhà, bị cáo đã gọi điện thoại cho Nguyễn Thị T1 hỏi T1 có mua mủ cao su không, sau khi thỏa thuận với T1 thì D đã thuê anh Kpuih B, Ksor M1, Tôn Thất Đ1 điều khiển xe công nông đến nhà ông L. Tại đây, D đã lén lút lấy đi 17 cục mủ cao su, có tổng trọng lượng là 974 kg. Theo kết luận định giá tài sản số 09 ngày 21/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị thực tế của 974 kg mủ cao su đông tạp là 12.175.000 đồng.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo bị phát hiện ngay sau đó và toàn bộ tài sản chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại nên gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại thêm cho bị hại là 4.000.000 đồng, người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cha của bị cáo là ông Nguyễn T có công với đất nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, kỉ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Để thể hiện sự nhân đạo trong chính sách pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Hình sự đối với người phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình đã gây ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, không bắt bị cáo đi chấp hình phạt tù thì cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo, không làm phương hại đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không gây ảnh hưởng tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Do đó đủ cơ sở để Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Về dân sự: Các bên đương sự đã thỏa thuận, không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng: Đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý tại giai đoạn điều tra và truy tố, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nông thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử: Bị cáo Nguyễn Thị D, phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị D 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/7/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này

2. Về phần dân sự, vật chứng: Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án:

Xử:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - Công an huyện Chư Pưh;
  • - Chi cục THADS huyện Chư Pưh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger