|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/4/2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cho
Ông Nguyễn Tấn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1991. HKTT: ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/8/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày, yêu cầu như sau:
Chị và anh Đ cưới nhau năm 2007, đến năm 2014 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm quan sống nên thường xuyên cãi nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Khoảng 04 đến 05 năm trước giữa chị và anh Đ xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên chị và con chị quay về nhà cha mẹ ruột sinh sống, 01 tháng sau thì anh Đ qua năn nỉ, muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nên chị quay về tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, vợ chồng vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, anh Đ thường xuyên đánh chị, khoảng hơn 01 năm trước anh Đ đánh đập chị và dùng kéo cắt tóc, gạch mặt, sau đó anh Đ đưa chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay.
Vợ chồng có 01 đứa con chung tên Huỳnh Chí T, sinh ngày 16/8/2011, hiện đang sống chung với anh Đ. Lúc chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống thì anh Đ hứa cuối tuần sẽ chở con xuống ở với chị nên chị mới đồng ý, tuy nhiên anh Đ chỉ chở được vài tuần thì nghĩ, không cho chị liên lạc với con, không cho chị về nhà gặp con, nên chị chỉ đến trường để gặp con. Vợ chồng có tài sản chung nhưng hiện nay không tranh chấp; vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng.
Chị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ; giao con Huỳnh Chí T, cho anh Đ nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con cùng anh Đ; về tài sản hiện không tranh chấp, về nợ không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 02/02/2024 bị đơn anh Huỳnh Văn Đ trình bày: Chị N yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý, không tranh chấp gì về tài sản, vợ chồng có 01 đứa con chung tên Huỳnh Chí T, sinh ngày 16/8/2011 hiện sống với anh, cháu T muốn sống với ai thì tùy vào quyết định của cháu, trường hợp sống với chị N thì anh không cấp dưỡng nuôi con.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn có lúc chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ; về con chung giao cháu Huỳnh Chí T, sinh ngày 16/8/2011 cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con cùng anh Đ; về tài sản chung và nợ chung không tranh chấp nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị N và bị đơn anh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ.
[3] Về quan hệ hôn nhân, chị N và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Giữa chị N và anh Đ trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã tìm nhiều giải pháp nhưng vẫn không thể khắc phục được, dẫn đến cuộc sống vợ chồng đã không còn hạnh phúc và đã ly thân hơn 01 năm nay, nay chị N yêu cầu được ly hôn thì anh Đ cũng đồng ý. Thấy rằng chị N và anh Đ đã ly thân một thời gian, nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ để hàn gắn lại tình nghĩa vợ chồng, không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên quan hệ hôn nhân không được đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó cho thấy giữa chị N và anh Đ mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, HĐXX căn cứ Điều 55, 56 Luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị N và anh Đ.
[4] Về con chung, chị N và anh Đ thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Huỳnh Chí T, sinh ngày 16/8/2011, hiện anh Đ đang nuôi dưỡng. Chị N tự nguyện giao cháu T cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn, anh Đ cũng có ý kiến con muốn sống với ai thì người đó nuôi dưỡng; cháu T có nguyện vọng được sống với cha là anh Đ. Thấy rằng, sự thỏa thuận giữa chị N và anh Đ phù hợp với nguyện vọng của cháu T, thời gian qua cháu T được anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu T cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Đ không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung và nợ chung, chị N và anh Đ hiện không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí, nguyên đơn chị Trần Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các điều 227, 228, 266, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 9, 55, 56, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị N và anh Huỳnh Văn Đ.
-
Về con chung: Giao con chưa thành niên tên Huỳnh Chí T, sinh ngày 16/8/2011 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn (cháu T hiện nay đang sống chung với anh Đ); chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Chị Trần Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0005007 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, chị N đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị N và bị đơn anh Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hon N-D
