|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-5-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thiện Bửu;
2. Ông Nguyễn Văn Trạng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Y, sinh ngày 01/01/1995 (có mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 (vắng mặt lần thứ 2).
Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, Đồng Tháp.
Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị Y trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, hôn nhân có tìm hiểu trước. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ
chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Chị và anh C chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 15/8/2013 hiện đang sống chung với chị, nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Hiện tại chị đang phụ bán căn tin, thu nhập bình quân mỗi tháng là 6.500.000 đồng nên đủ khả năng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị và anh C chung sống không có tài sản chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn Nguyễn Văn C đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt và cũng không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Y.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Y với anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị Trương Thị Y, chị Y được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 15/8/2013, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y tự nguyện không yêu cầu.
- Về tài sản và nợ chung: Chị Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn Nguyễn Văn C hiện đang cư trú tại khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hồng
Ngự theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Trương Thị Y yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, cũng như trình bày của chị Y thì anh chị cưới nhau và kết hôn vào năm 2013 tại UBND phường A, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình hôn nhân anh chị sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/3023 đến nay. Trong thời gian ly thân anh, chị cũng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, tình cảm giữa anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Y là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
- Về con chung: Chị Y và anh C chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 15/8/2013, hiện đang sống chung với chị Y. Nay ly hôn, chị Y yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Y, anh C ly thân thì cháu N sống cùng chị Y và cháu đã trên 07 tuổi, theo nguyện vọng muốn sống với mẹ. Đồng thời bản thân chị Y có việc làm, thu nhập ổn định, nên xét về điều kiện chăm sóc cũng như nguyện vọng của con thì yêu cầu nuôi con của chị Y hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận phù hợp với quy định khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
“2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về
mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con".
Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y tự nguyện không yêu cầu, chị Y cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Chị Y và anh C chung sống không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Y trình bày vợ chồng không có nợ ai và không có ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định, theo đó:
Nguyên đơn chị Trương Thị Y phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu số 0001903 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chị Y đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn anh Nguyễn Văn C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Từ các phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Y. Chị Trương Thị Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị Trương Thị Y.
Chị Trương Thị Y được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 15/8/2013. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y tự nguyện không yêu cầu. Chị Y cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Trương Thị Y phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu số 0001903 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chị Y đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/5/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
