Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày: 17-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thúy Phượng;
  2. Ông Nguyễn Văn Xem.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thể - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 16/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo: Diệp Thị Bích T, sinh ngày 19/10/1991 tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Diệp Trung T1, sinh năm 1971 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1969; Chồng: Đã ly hôn; Con ruột: Mai Bội B, sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày từ ngày 30/01/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Chiêu H1, sinh năm 2001 (có mặt).
  2. Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  3. Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1986 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người làm chứng:

  1. Ông Vương Phú V, sinh năm 1971 (có mặt).
  2. Địa chỉ: Khóm F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh, bị cáo Diệp Thị Bích T quen biết với Nguyễn Chiêu H1, ngụ tại ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian từ tháng 5/2023, do cần vốn giải quyết công việc cá nhân nên ông H1 có hỏi bị cáo Bích T vay tiền thì bị cáo đồng ý. Bị cáo Bích T đã cho ông H1 vay tiền 05 lần với tổng số tiền là 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng), lãi suất vay thỏa thuận 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương lãi suất 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất quy định. Thời hạn vay là 03 tháng, tiền lãi được tính theo kỳ 15 ngày tính một lần. Sau đó, ông H1 giới thiệu bà Lê Thị Ú, ngụ ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh là người làm chung Công ty với ông H1 vay tiền của bị cáo Bích T, cụ thể như sau:

Bị cáo Bích T đã cho Nguyễn Chiêu H1 vay tiền 05 lần gồm:

  • Lần thứ nhất: Ngày 17/5/2023, bị cáo Bích T cho ông H1 vay số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Đến ngày 23/5/2023, ông H1 thanh toán tiền gốc và đóng tiền lãi cho 01 kỳ vay (15 ngày) với số tiền là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
  • Lần thứ hai: Ngày 26/5/2023, bị cáo Bích T cho ông H1 vay số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng và ông H1 đóng lãi được 08 kỳ đến ngày 17/9/2023 với tổng số tiền là 16.800.000đ (mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
  • Lần thứ ba: Ngày 31/5/2023, bị cáo Bích T cho ông H1 vay số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng và ông H1 đóng lãi được 07 kỳ đến ngày 12/9/2023 với tổng số tiền là 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
  • Lần thứ tư: Ngày 02/6/2023, bị cáo Bích T cho ông H1 vay số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng và ông H1 đóng lãi được 07 kỳ đến ngày 12/9/2023 với tổng số tiền là 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
  • Lần thứ năm: Ngày 06/6/2023, bị cáo Bích T cho ông H1 vay số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng và ông H1 đóng lãi được 07 kỳ đến ngày 17/9/2023 với tổng số tiền là 14.700.000đ (mười bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Bị cáo Bích T cho bà Lê Thị Ú vay tiền 01 lần vào ngày 19/5/2023 với số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) với lãi suất vay thỏa thuận là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương lãi suất 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất quy định, thời hạn vay là 02 tháng, tiền lãi được tính theo kỳ 15 ngày tính một lần. Bà Ú đã đóng lãi cho bị cáo Bích T được 02 kỳ với số tiền là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) rồi thỏa thuận chuyển khoản tiền vay này lại cho Nguyễn Chiêu H1. Sau đó, ông H1 đóng lãi tiếp cho bị cáo Bích T 05 kỳ với tổng số tiền là 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Đến ngày 25/8/2023, ông H1 thanh toán xong cả gốc và lãi khoản vay này cho bị cáo Bích T. Từ khoảng tháng 9/2023, do công việc của ông H1 gặp khó khăn, thu nhập không ổn định nên ông H1 không thể đóng lãi và gốc vay cho bị cáo Bích T đúng thời gian theo thỏa thuận, bị cáo Bích T nhiều lần yêu cầu ông H1 thanh toán tiền gốc và lãi đã vay nhưng ông H1 không có khả năng thanh toán và nhận thấy lãi suất cho vay của bị cáo Bích T vượt mức quy định nên ông H1 tố giác hành vi vi phạm của Diệp Thị Bích T đến Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, bị cáo Bích T thừa nhận hành vi vi phạm như đã nêu trên, phù hợp với nội dung trình bày của ông Nguyễn Chiêu H1, bà Lê Thị Ú cùng những tài liệu chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được.

Đồng thời, bị cáo Bích T cho biết để có tiền cho vay bị cáo đã thế chấp tài sản để vay ngân hàng lấy tiền cho vay lại với lãi suất cao hơn để hưởng chênh lệch. Số tiền lãi có được từ việc cho vay bị cáo dùng để đóng lãi ngân hàng và tiêu xài cá nhân. Qua đó, bị cáo Bích T xác định tổng số tiền lãi mà bị cáo đã nhận của ông Nguyễn Chiêu H1 và bà Lê Thị Ú là 54.900.000đ (năm mươi bốn triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó số tiền thu lợi vượt mức quy định là 47.379.452đ (bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).

Như vậy, tổng số tiền lãi bị cáo Bích T đã thu lợi vượt mức cho phép là 47.379.452đ (bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng). Qua đó, bị cáo Bích T đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

Quá trình điều tra xác định, bị cáo Bích T còn cho ông Vương Phú V, ngụ khóm F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) vào tháng 5/2023 với lãi suất 2.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương 73%/năm gấp 3,65 lần lãi suất quy định, tiền lãi được tính theo kỳ 15 ngày trả một lần. Đến khoảng đầu tháng 9/2023, ông V thanh toán tiền gốc và lãi vay 06 kỳ, bị cáo Bích T bớt cho ông V 01 kỳ và nhận tiền lãi là 3.000.000đ (ba triệu đồng), trong đó số tiền thu lợi vượt mức quy định là 2.013.699đ (hai triệu không trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng). Tuy nhiên, phần cho ông V vay lãi suất chưa vượt mức lãi suất gấp 05 lần so với mức lãi suất cao nhất do luật định nên hành vi này bị xử lý hành chính và tịch thu số tiền thu lãi bất chính 2.013.699đ (hai triệu không trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Diệp Thị Bích T về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Diệp Thị Bích T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Diệp Thị Bích T từ 80 - 100 triệu đồng. Về xử lý vật chứng: Buộc bị cáo Bích T phải nộp lại số tiền là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Buộc H1 phải nộp lại số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước, do đây là số tiền mà bị cáo dùng để cho vay.

Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 7.520.548đ (bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng) là khoản tiền lãi mà bị cáo đã thu được của người vay tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự để sung ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền mà bị cáo đã thu lợi bất chính từ người vay là 47.379.452đ (bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) thì đề nghị trả lại cho người vay cụ thể trả cho ông H1 số tiền 45.308.219đ (bốn mươi lăm triệu ba trăm linh tám nghìn hai trăm mười chín đồng), trả lại cho bà Ú số tiền 2.071.233đ (hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng).

Đối với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra thì đề nghị tạm giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Diệp Thị Bích T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không khiếu nại gì cáo trạng của Viện kiểm sát và thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã mô tả, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2023 bị cáo Diệp Thị Bích T đã cho ông Nguyễn Chiêu H1 vay 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng); bà Lê Thị Ú vay 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) với mức lãi suất vay thỏa thuận 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương đương lãi suất 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất quy định. Tổng số tiền lãi bị cáo Bích T đã thu của ông H1 và bà Ú là 54.900.000đ (năm mươi bốn triệu chín trăm nghìn đồng); lãi suất thu vượt 7,3 lần là 47.379.452đ (bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng). Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Diệp Thị Bích T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân, mọi hành vi cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính đều phải bị xử lý nghiêm; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật; bị cáo đã lợi dụng người đi vay đang gặp hoàn cảnh khó khăn, cần tiền giải quyết công việc trong cuộc sống nên bị cáo đã cho vay với mức lãi suất cao hơn nhiều lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; bị cáo có ông nội là ông Diệp Trung P là liệt sỹ. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền mà bị cáo dùng để cho vay là 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng), do đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đối với số tiền vay là 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng) thì H1 đã trả cho bị cáo 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), còn 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) H1 vẫn chưa trả cho bị cáo. Do đó, cần buộc bị cáo Bích T phải nộp lại số tiền là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Buộc H1 phải nộp lại số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  6. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 7.520.548đ (bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng) là khoản tiền lãi mà bị cáo đã thu được của người vay tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 20%/năm để sung ngân sách Nhà nước.

    Đối với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra thì đề nghị tạm giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C quản lý để đảm bảo thi hành án.

    Lẽ ra trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra phải thu giữ 01 chiếc điện thoại di động mà bị cáo dùng để liên lạc với người vay nhưng do Cơ quan điều tra không thu giữ nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý được.

  7. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Buộc bị cáo phải trả lại số tiền 47.379.452đ (bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) cho người vay, do xác định đây là số tiền lãi vượt mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, cụ thể trả cho ông H1 số tiền 45.308.219đ (bốn mươi lăm triệu ba trăm linh tám nghìn hai trăm mười chín đồng), trả lại cho bà Ú số tiền 2.071.233đ (hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng).
  8. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Diệp Thị Bích T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
  9. Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
  10. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Diệp Thị Bích T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 1 Điều 201, các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Diệp Thị Bích T số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Buộc bị cáo Diệp Thị Bích T phải nộp lại số tiền là 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Buộc ông Nguyễn Chiêu H1 phải nộp lại số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Diệp Thị Bích T phải nộp lại số tiền 7.520.548đ (bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Tạm giao số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp cho Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C quản lý để đảm bảo thi hành án. Số tiền trên hiện đang tạm gửi tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Diệp Thị Bích T trả lại cho ông Nguyễn Chiêu H1 số tiền 45.308.219đ (bốn mươi lăm triệu ba trăm linh tám nghìn hai trăm mười chín đồng), trả lại cho bà Lê Thị Ú số tiền 2.071.233đ (hai triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Buộc bị cáo Diệp Thị Bích T nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.368.973đ (hai triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm bảy mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Phượng

Nguyễn Văn Xem

Dương Thị Trúc Linh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Cầu Kè;
  • - Công an huyện Cầu Kè;
  • - CC.THADS huyện Cầu Kè;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Diệp Thị Bích T phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger