Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Ông Phạm Anh Tuyết
Thẩm phán:Ông Trần Hữu Hiệu
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Công Định
Bà Phạm Thị Thà
Bà Nguyễn Thị Bích Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành T, S năm 1973. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B, Tổ dân phố H, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số A Chung cư H, số A đường T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1951; Vợ: Phạm Thị H (đã ly hôn); có 02 con; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ hai.Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS- ST ngày 18/01/2024, TAND quận 12, TP . xử phạt Nguyễn Thành T 01 năm tù về Tội đánh bạc (hành vi đánh bạc vào ngày 17/02/2023), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo T bị tạm giam từ ngày 12/3/2024, theo Quyết định bắt, tạm giam của TAND tỉnh Hải Dương; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Trung K1 – Luật sư văn phòng L4, thuộc đoàn luật sư tỉnh H. Địa chỉ: Số A Hồ N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

- Bị hại: Anh Lê Tiến Q, sinh năm 1977 và chị Phí Thị Thúy L1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số C Hồ X, khu A, phường N, thành phố H (Chị L1 có mặt, anh Q vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Hồng Đ, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Số B, khối A, C/C F CC1-A, khu ở N, Ấp C, xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Trịnh Văn L2, sinh năm: 1962. Địa chỉ: C, đường N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ông Trần Cao T1, sinh năm: 1965. Địa chỉ: B V, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Anh Huỳnh Tấn D, sinh năm: 1986. Địa chỉ: số A N, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm: 1965. Địa chỉ: B, tổ A, khu phố C, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Chị Nguyễn Hồng Bảo N1, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  7. Anh Lê Xuân M, sinh năm: 1976. Địa chỉ: 40/30/5/13 đường TL44 phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

(Đều vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Lữ Đình N2, sinh năm 1991; ông Hà Văn P, sinh năm 1959; Anh Nguyễn Thành H1, sinh năm 1977; ông Lại Đình P1, sinh năm 1970; bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1951; ông Đỗ Nhơn T2, sinh năm 1954; chị Nguyễn Thị Mai N3, sinh năm 1990; anh Dương Thuận P2, sinh năm 1998; chị Hồ Thanh N4, sinh năm 1988; anh Lâm Gia T3, sinh năm 1991; chị Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1993; chị Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 1980; chị Bùi Hồng L3, sinh năm 1986; anh Phạm Văn N5, sinh năm 1978; anh Trần Trọng N6, sinh năm 1973; Công ty TNHH T9; Công ty TNHH V; ông Trần Cao T5, sinh năm 1970; chị Đặng Thị Yến T6, sinh năm1993; anh Nguyễn Thanh H2, sinh năm1968;

chị Võ Thị Hồng N7, sinh năm 1987; anh Nguyễn Thành Gia Đ1, sinh năm 2004

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Lê Tiến Q, sinh năm 1977 trú tại số C Hồ X, khu A, phường N, thành phố H đăng ký kinh doanh cửa hàng P3, in ấn tại nhà từ năm 2009 nên quen biết Nguyễn Thành T làm dịch vụ môi giới, mua bán máy in công nghiệp đã qua sử dụng. Khoảng giữa tháng 9/2022, anh Q liên hệ với T, thỏa thuận nhờ T tìm mua giúp 01 máy in để sử dụng. T tìm hiểu và biết thông tin Công ty TNHH D2 (viết tắt Công ty D2), địa chỉ số E đường T, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh do anh Trần Thế D1 là Giám đốc có nhu cầu bán máy in đã qua sử dụng. Ngày 17/9/2022, T trao đổi với anh Q vào thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp xem máy in để thỏa thuận mua bán và đưa anh Q đến gặp ông Trần Cao T5, sinh năm 1970 (bố anh D1) là nhân viên quản lý Công ty D2. Tại đây, anh Q đặt vấn đề mua máy in offset nhãn hiệu Mitsubishi DAIYA, màu sơn trắng, sản xuất năm 1989 của Công ty D2. Do đã nhờ T môi giới nên anh Q không trực tiếp thỏa thuận giá cả, phương thức thanh toán với ông T5 mà T trao đổi, thống nhất với ông T5 giá mua bán máy in là 01 tỷ đồng chưa bao gồm chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử và bảo hành. Sau khi anh Q về Hải Dương, ngày 21/9/2022, T gọi điện thoại cho anh Q thông báo Công ty Danh Danh bán máy in trên với giá 01 tỷ, chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử và bảo hành là 150 triệu đồng, anh Q đồng ý mua. Hai bên thỏa thuận, anh Q chuyển trước cho T 01 tỷ đồng thì Công ty D2 tháo máy in giao cho T để vận chuyển ra Hải Dương, còn 150 triệu đồng sẽ thanh toán sau khi vận chuyển, lắp đặt, kiểm tra hoạt động tại xưởng nhà anh Q. Lúc này, T đang cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên gọi điện cho ông T5 nói khách hàng chỉ trả giá 900 triệu đồng, ông T5 không đồng ý bán máy in trên, tuy nhiên T vẫn trao đổi với anh Q về việc thực hiện giao dịch mua bán máy in trên và bảo anh Q chuyển tiền vào tài khoản của T để T đến Công ty D2 tháo máy in. Tin lời T nên anh Q bảo vợ là chị Phí Thị Thúy L1 chuyển tiền vào tài khoản của T.

Ngày 01/10/2022, chị L1 dùng ứng dụng Internet Banking trên điện thoại di động chuyển 500 triệu đồng (03 lần) từ tài khoản số [...] mở tại ngân hàng V1 đến tài khoản số 0441003831913 của T mở tại Ngân hàng V2. Ngay sau khi nhận 500 triệu đồng từ chị L1, T sử dụng trả nợ các khoản vay và thanh toán

tiền mua hàng hóa, dịch vụ còn nợ trước đó của nhiều cá nhân, tổ chức bằng hình thức chuyển khoản trực tiếp từ tài khoản của T đến tài khoản của chủ nợ gồm: Trả nợ chị Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1982, trú tại số B, khối A, C/C F CC1-A, khu ở N, Ấp C, xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh: 50 triệu đồng; ông Trịnh Văn L2, sinh năm 1962, trú tại C101 BIS, đường N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh: 50 triệu đồng; ông Trần Cao T1, sinh năm 1965, trú tại B V, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh: 60 triệu đồng; anh Lữ Đình N2, trú tại 3 P, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh: 18.250.000 đồng. Chuyển khoản 232 triệu đồng vào tài khoản của chị Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1993, trú tại A, ấp Đ, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (vợ anh Lâm Gia T3, sinh năm 1991), thanh toán mua xe ô tô nhãn hiệu Kia Carens, màu xám, biển kiểm soát 51A- 283.47 của công ty Ô, địa chỉ B đường D, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (chiếc xe này T đã cầm cố cho ông Trần Cao T1 để vay tiền, sau đó không thấy T quay lại lấy xe nên ông T1 đã bán chiếc xe trên cho người tên T7 ở thành phố Hồ Chí Minh được 245.000.000 đồng); chuyển khoản 42.600.000 đồng vào tài khoản Công ty TNHH T9, địa chỉ số D- D- D C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh thanh toán tiền mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 59G3-104.49 cho chị Nguyễn Hồng Bảo N1 (con gái T). Ngoài ra, T còn chuyển tiền đến các tài khoản để đổi tiền mặt, sử dụng chi tiêu cá nhân, gồm: chuyển 40 triệu đồng đến tài khoản của chị Hồ Thanh N4, sinh năm 1988, trú tại Ấp C, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; chuyển 05 triệu đồng đến tài khoản của ông Hà Văn P, sinh ngày 12/5/1959, trú tại: A N, phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh; chuyển 08 triệu đồng đến tài khoản của chị Võ Thị Hồng N7, sinh năm 1987, trú tại G50, KDC T, đường L, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh trả tiền thuê nhà.

Tiếp đến, ngày 07/10/2022, chị L1 sử dụng tài khoản ngân hàng S1 và số [...] chuyển tổng số tiền 500 triệu đồng đến tài khoản số 0441003831913 của T. Sau khi nhận tiền, T chuyển tiền vào các tài khoản khác để trả nợ cho: Ông Trịnh Văn L2 số tiền 50 triệu đồng; anh Huỳnh Tấn D, sinh năm 1986, trú tại số A N, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 54 triệu đồng; chị Nguyễn Hồng Đ số tiền 13.300.000 đồng; anh Nguyễn Thành H1 (em trai T), sinh năm 1977, trú tại: 2, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 05 triệu đồng; ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1965, trú tại B, tổ A, khu phố C, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 40 triệu đồng; ông Lại Đình P1, sinh năm 1970, trú tại: thôn B, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số tiền 40 triệu đồng; bà Nguyễn Ngọc L (mẹ đẻ T), sinh năm 1951, trú tại 2150/11/20/9, tổ dân phố H, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 3.400.000 đồng; chuyển khoản 38.500.000 đồng đồng vào tài khoản Công ty TNHH V, địa chỉ: MM8 T, phường A, quận A, TP Hồ Chí Minh thanh toán tiền mua xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision cho chị Nguyễn Hồng Đ (đây là tiền T nợ chị Đ trước đó). T chuyển tiền đến các tài khoản để cho vay, gồm: chị Nguyễn Thị Trà M1 (em gái T), sinh năm 1980, trú tại số B, tổ dân phố H, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 10 triệu đồng; anh Lê Xuân M, sinh năm 1976, trú tại: 40/30/5/13 đường T phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 150 triệu đồng, anh M đã trả T 100 triệu đồng; anh Phạm Văn N5, sinh năm 1978, trú tại E T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 50 triệu đồng; chị Nguyễn Hồng Bảo N1 (con gái T), sinh năm 2000, trú tại Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An số tiền 50 triệu đồng, chị N1 đã trả lại T số tiền trên. T chuyển tiền đến các tài khoản để nhờ rút tiền mặt gồm: chuyển 05 triệu đồng cho ông Đỗ Trơn T8, sinh năm 1954, địa chỉ số E, đường D, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chuyển 16 triệu đồng cho chị Hồ Thanh N4, sinh năm 1988, trú tại Ấp C, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; chuyển 12.400.000 đồng cho anh Nguyễn Thành Gia Đ1 (con trai T), sinh năm 2004, trú tại: C Chung cư H, số A đường T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (trong đó có 10 triệu đổi tiền mặt còn lại 2.400.000 đồng cho anh Đ1 chi tiêu); chuyển 4.300.000 đồng cho chị Bùi Hồng L3, sinh năm 1986, trú tại 2 đường số F, khu phố F, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, T còn chuyển tiền đến các tài khoản khác để chi tiêu cá nhân như: chuyển 10 triệu đồng cho chị Nguyễn Thị Mai N3, sinh năm 1990, trú tại 41/21A TA 35, khu phố E, T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (T không nhớ chi tiêu gì); chuyển 1.100.000 đồng cho anh Dương Thuận P2, sinh năm 1998, trú tại 3 đường số F, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh thanh toán tiền ship đồ ăn; chuyển 4.100.000 đồng cho ông Trần Trọng N6, sinh năm 1973, trú tại: số B H, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh thanh toán tiền mua vàng (T đã bán vàng chi tiêu hết); rút 05 triệu đồng tiền mặt, nạp tiền EPASS (phí không dừng) 01 triệu đồng và giao dịch qua thẻ số tiền 24.893.000 đồng.

đang chở máy in có đặc điểm gần giống máy in của Công ty D2, T đã chụp ảnh máy in này gửi cho anh Q qua ứng dụng zalo để anh Q tin tưởng là T đã tháo máy in từ Công ty D2 vận chuyển ra xưởng nhà anh Q. Đến ngày 12/10/2022 anh Q không nhận được máy in nên liên lạc với T thì T nói dối máy in được vận chuyển đến thành phố Đà Nẵng bị tai nạn chưa xử lý xong nên chưa chuyển ra xưởng anh Q được. Sau đó, anh Q gọi điện thoại cho T nhiều lần nhưng không liên lạc được nên làm đơn tố cáo T đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 85/CT-VKS-P1 ngày 20/11/2003, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự . Xử phạt: Bị cáo T từ 13 đến 14 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho các bị hại là 341.600.000 đồng; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị hại là 648.400.000 đồng. Ngoài ra, còn đề nghị về án phí theo quy định.

*Bị cáo T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

*Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý về tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị cáo T như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1].Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ; Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa nên tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Đối với chị Võ Thị Hồng N7 và anh Nguyễn Thành Gia Đ1, tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử được triệu tập với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, qua việc hỏi làm rõ tại phiên tòa có căn cứ xác định những người này được bị cáo T chuyển số tiền không lớn, với mục đích sử dụng để chi dùng sinh hoạt hàng ngày nên không phải là người có nghĩa vụ liên quan, không có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho bị hại theo Điều 167 của Bộ luật Dân sự.

[2] Về hành vi: Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định: Trong tháng 9/2022, tại thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thành T đưa thông tin gian dối với anh Lê Tiến Q về việc T giúp anh Q làm trung gian môi giới mua 01 máy in offset DAIYA nhãn hiệu Mitsubishi của Công ty TNHH D2 với giá 1.000.000.000 đồng. Anh Q tưởng thật nên đã chuyển cho T 1.000.000.000 đồng vào các ngày 01/10/2022, 07/10/2022, ngay sau khi nhận được tiền T đã sử dụng chi tiêu hết cho bản thân.

[3] Bị cáo T do muốn có tiền chi tiêu cho bản thân, lợi dụng việc bị hại tin tưởng và nhờ T mua hộ máy in nên T đã nói dối anh Q là đặt mua 01 máy in của Công ty D2 vào ngày 21/9/2022, nhưng thực tế T không mua máy in cho anh Q, bị cáo T vẫn bảo bị hại chuyển đủ 01 tỷ đồng cho T, và dùng chi tiêu cá nhân hết số tiền này nên hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo T về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ pháp luật, đúng người đúng tội.

[4] Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đưa ra thông tin sai sự thật về việc mua máy in cho bị hại để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng anh Q, chị L1 là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do vụ lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải có mức án tương xứng, phù hợp dành cho bị cáo T mới có tác dụng giáo dụng riêng và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm chung.

[5]Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1]Về nhân thân: Bị cáo T bị Tòa án nhân dân quận 12, TP . xử phạt 01 năm tù về Tội đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

[5.2]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm người phạm tội thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và hậu quả tội phạm bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng trừng trị, giáo dục để bị cáo sống biết chấp hành pháp luật.

[6.2]Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản, bị xử phạt tù nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, những người liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu được xác minh trong hồ sơ vụ án và được hỏi là rõ tại phiên tòa thì thấy rằng, sau khi nhận được số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) do bị hại chuyển qua tài khoản ngân hàng cho bị cáo T (chuyển trong 02 ngày), T đã chuyển 341.600.000 đồng đến: Anh Lữ Đình N2, ông Hà Văn P, anh Nguyễn Thành H1, ông Lại Đình P1, bà Nguyễn Ngọc L, ông Đỗ Nhơn T2, chị Nguyễn Thị Mai N3, anh Dương Thuận P2, chị Hồ Thanh N4, chị Võ Thị Hồng N7, anh Lâm Gia T3, chị Nguyễn Thị Thanh T4, chị Nguyễn Thị Trà M1, chị Nguyễn Hồng Bảo N1, chị Bùi Hồng L3, anh Nguyễn Thành Gia Đ1, anh Phạm Văn N5, anh Trần Trọng N6, Công ty TNHH T9, Công ty TNHH V.

Hội đồng xét xử nhận thấy, đây là những khoản tiền bị cáo chuyển khoản với mục đích để: Đổi tiền mặt cho bị cáo sử dụng, bị cáo cho vay nhưng sau đó đã nhận lại tiền vay, mua vàng cho bị cáo, chi trả các khoản tiêu dùng cá nhân hàng ngày với số tiền không lớn và một số trường hợp người liên quan trong quá trình điều tra không xác minh được địa chỉ, không lấy được ý kiến trình bày của họ để làm rõ về số tiền chuyển đến nên đối với số tiền 341.600.000 đồng này có căn cứ xác định do bị cáo T đã dùng chi tiêu cho chính bị cáo, hiện bị cáo chưa trả lại cho bị hại và bị hại yêu cầu bị cáo hoàn trả tiền là có căn cứ chấp nhận, cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị hại số tiền này là đúng quy định của pháp luật;

[7.2] Đối với số tiền còn lại là 658.400.000 đồng (1.000.000.000đồng- 341.600.000 đồng= 658.400.000 đồng). Qua lời khai của bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án cùng các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án và được hỏi làm rõ tại phiên tòa. Có căn cứ xác định, sau khi được bị hại chuyển tiền bị cáo T đã chuyển khoản cho những người có liên quan với những lý do chuyển tiền như sau:

  • Chị Nguyễn Hồng Đ được bị cáo chuyển trả nợ là 101.800.000 đồng (BL: 1086; 1058-1078), trong đó 03 lần chuyển tiền mặt = 63.300.000 đồng và chuyển trả nợ 38.500.000 đồng qua việc thanh toán tiền chị Đ mua xe máy tại Công ty V;
  • Ông Trịnh Văn L2 được bị cáo T chuyển trả tiền nợ 02 lần = 65.000.000 đồng (BL: 1103);
  • Ông Trần Cao T1 được bị cáo chuyển khoản trả nợ ông T1 vào ngày 01/10/2022 số tiền = 60.000.000 đồng và số tiền 245.000.000 đồng do ông T1 bán xe ô tô T cầm cố trước đó (nguồn tiền xe ô tô do T lấy từ tiền bị hại chuyển đến). Tổng số tiền ông T1 quản lý từ bị cáo là 305.000.000 đồng (BL: 1107);
  • Anh Huỳnh Tấn D được T chuyển trả nợ là 54.000.000 đồng, việc chuyển tiền thông qua tài khoản chị T6 nhận hộ sau đó đã chuyển lại tiền cho anh D (BL: 1089);
  • Ông Nguyễn Hữu N được T trả nợ 40.000.000 đồng, việc chuyển số tiền này qua việc chuyển khoản cho anh H2 nhận hộ sau đó đã chuyển lại tiền cho anh N (BL: 1095);
  • Chị Nguyễn Hồng Bảo N1 được T chuyển 42.600.000 đồng để chị N1 dùng mua xe máy (BL: 1096)
  • Anh Lê Xuân M được T chuyển tiền cho anh M vay, hiện chưa trả lại cho T 50.000.000 đồng (BL: 1084). Tại phiên tòa chị L1 xác nhận đã được anh M chuyển khoản trả cho chị L1 số tiền 10.000.000 đồng vào cuối năm 2023 nên có căn cứ xác định anh M hiện còn đang quản lý số tiền 40.000.000 đồng vay của bị cáo T (tiền này do bị cáo phạm tội mà có)

Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện có căn cứ xác định 07 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở trên đang quản lý số tiền do được bị cáo T chuyển đến tổng là 648.400.000 đồng. Theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật Dân sự, trường hợp này chủ sở hữu tài sản (bị hại) có quyền đòi lại số tiền từ những người mà bị cáo đã chuyển đến (tiền do phạm tội mà có). Căn cứ Điều 167, Điều 579, Điều 580, Điều 582 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử thấy cần buộc 07 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu trên phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho bị hại số tiền mà bị cáo chiếm đoạt. Quan hệ dân sự (cho, vay nợ) giữa bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do các bên tự thỏa thuận giải quyết, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[8]Về án phí: Bị cáo T bị kết tội và phải bồi thường dân sự nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 117; Điều 122; Điều 127; Điều 131; Điều 167; Điều 579; Điều 580; Điều 582 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 14 (mười bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/3/2024.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không.
  5. Về trách nhiệm dân sự, xử:
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 341.600.000 đồng (Ba trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng);
  • - Buộc chị Nguyễn Hồng Đ phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 101.800.000 đồng (Một trăm linh một triệu, tám trăm nghìn đồng);
  • - Buộc ông Trịnh Văn L2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng);
  • - Buộc ông Trần Cao T1 phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 305.000.000 đồng (Ba trăm linh lăm triệu đồng);
  • - Buộc anh Huỳnh Tấn D phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng);
  • - Buộc ông Nguyễn Hữu N phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng);
  • - Buộc chị Nguyễn Hồng Bảo N1 phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 42.600.000 đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng);
  • - Buộc anh Lê Xuân M phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Lê Tiến Q và chị Phí Thị Thúy L1 là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 17.080.000 đồng (Mười bảy triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về nội dung liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT I- TANDTC;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo, người bào chữa;
  • - Bị hại; Người có qlnv liên quan;
  • - Lưu Tòa; Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger