Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 9 - 2024

“V/v tranh chấp về Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Công Nghĩa
  2. Bà Trần Thị Ngọc Lan

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Trọng - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1991
  2. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình

    Nơi ở hiện nay: C6, thôn 12, xã Cư Ni, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk

  3. Bị đơn: Anh Hoàng Phi C - Sinh năm: 1986
  4. Nơi cư trú: Xóm C, thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt (Nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt), bị đơn vắng mặt (Nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

2

Chị và anh Hoàng Phi C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27 tháng 4 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C thường xuyên đi uống rượu, về nhà thì gây gỗ và đánh đập chị. Mặc dù chị đã khuyên nhủ rất nhiều lần nhưng anh C vẫn không thay đổi. Tình trạng này kéo dài khiến chị luôn sống trong tâm trạng lo âu và sợ hãi. Ngày 13/12/2021, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để sinh sống. Từ đó đến nay, chị không còn liên lạc gì với anh C nữa. Nhận thấy tình cảm của mình đối với anh C thực sự không còn nên chị có nguyện vọng xin được ly hôn với anh C để sớm ổn định cuộc sống.

Quá trình chung sống, chị và anh C có 02 con chung, tên là Hoàng Minh Đ, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2015 và Hoàng Minh T1, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2017. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con Hoàng Minh T1 và giao con Hoàng Minh Đ cho anh C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Về tài sản chung, trong thời gian chung sống, vợ chồng anh, chị chưa tôn tạo được tài sản chung gì; anh, chị không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập nhiều lần cho anh C nhưng anh C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.

Kết quả xác minh tại Công an xã Q thể hiện: Anh Hoàng Phi C hiện vẫn có hộ khẩu thường trú và có mặt tại địa phương thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q và theo lời khai của ông Hoàng Đăng C1 (Bố đẻ của anh C) cho thấy: Do anh C hiện đang làm nghề sơn, đi làm theo công trình nên thời gian phụ thuộc vào công trình, không thường xuyên có mặt ở nhà và không tự chủ động được về mặt thời gian của bản thân. Tuy vậy nhưng gia đình anh C cũng đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng nói trên của Tòa án và đã thông báo cho anh C biết về nội dung, thời gian đến trụ sở Tòa án để tham gia tố tụng. Tuy nhiên, mặc dù anh C không có mặt theo các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh C và gia đình cũng đã bàn bạc với nhau về việc giải quyết nội dung vụ án. Theo đó, anh C trình bày về quan hệ hôn nhân với chị T, anh đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án; về con chung, anh vẫn thừa nhận có hai con chung như chị T trình bày, do khi về nhà bố mẹ đẻ của chị T ở chị T có đưa con Hoàng Minh T1 đi cùng và để con Hoàng Minh Đ lại cho anh nuôi nên nếu ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi con Hoàng Minh Đ

3

và giao con Hoàng Minh T1 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai; về tài sản chung và nợ chung, anh xác định vợ chồng không có nên cũng không yêu cầu Toà án giải quyết. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án vắng mặt anh.

Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 30/8/2024, trước đó đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh C, tuy nhiên, do anh Hoàng Phi C vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập anh C đến phiên tòa lần thứ hai vào ngày 16/9/2024, đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đến phiên toà, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh C, nhưng tại phiên tòa anh C vẫn tiếp tục vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C.

Về nội dung: Thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị T được ly hôn với anh C. Đề nghị áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị T được quyền nuôi dưỡng con chung Hoàng Minh T1 và giao cho anh C được quyền nuôi dưỡng con chung Hoàng Minh Đ, không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Do chị T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung của vợ chồng nên không xem xét giải quyết về các vấn đề này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Hoàng Phi C; anh C có nơi cư trú tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

4

Về sự vắng mặt của chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C tại phiên toà: Trước khi mở phiên tòa, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh C mặc dù đã được Tòa án triệu tập và niêm yết Giấy triệu tập đến phiên toà hai lần vào các ngày 30/8/2024 và ngày 16/9/2024, nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27 tháng 4 năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, do anh C thường xuyên đi uống rượu, về nhà thì gây gỗ và đánh đập chị T, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tuy chị T đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh C vẫn không thay đổi. Tình trạng này vẫn tiếp tục kéo dài cho đến ngày 13/12/2021, chị T đã quyết định về nhà bố mẹ đẻ ở xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để sinh sống. Từ đó đến nay, chị T không còn liên lạc gì với anh C nữa. Nhận thấy tình cảm của mình đối với anh C thực sự không còn nên chị có nguyện vọng xin được ly hôn với anh C để sớm ổn định cuộc sống.

Đối với anh Hoàng Phi C, mặc dù đã nhận được văn bản tố tụng đầy đủ, anh biết rõ việc chị T làm đơn xin ly hôn mình và vụ án đang được Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền nhưng vẫn vắng mặt, không chấp hành theo triệu tập của Tòa án. Điều này chứng tỏ anh C cũng không có trách nhiệm và không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân của vợ chồng.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thời gian sống ly thân đã lâu, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn đối với anh Hoàng Phi C là phù hợp.

[3] Về quan hệ con chung:

Quá trình chung sống, chị T và anh C có 02 con chung, tên là Hoàng Minh Đ, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2015 và Hoàng Minh T1, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2017. Xét thấy, cháu T1 còn nhỏ, hiện đang ở với chị T và chị T có nguyện vọng xin được nuôi cháu T1; còn cháu Đ hiện đang ở với anh C, cháu Đ cũng có Đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với bố, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con Hoàng Minh T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao con Hoàng Minh Đ cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

5

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Hoàng Phi C.
  3. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Hoàng Minh T1, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2017 và giao cho anh H Phi Công được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là con Hoàng Minh Đ, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2015. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
  4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  5. Về quan hệ tài sản chung: Không có nên không xem xét.
  6. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003337, ngày 13/5/2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Phi C đều vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - UBND xã Cư Ni,
  • huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP,hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trang - Hoàng Phi Công: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger