|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 24/2024/DSST Ngày 16 – 8 – 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Ông Trần Nhị Hường
Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Quyền Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số 85/2024/TB-TLVA ngày 19/04/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXX - DS ngày 22/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/QÐST-HPT ngày 07/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1 (S2) địa chỉ: B N, Phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng T – Giám đốc Chi nhánh C; Đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Hồng T: Ông Nguyễn Trường S – Nhân viên xử lý nợ; Địa chỉ: Ngân hàng TMCP S1 (S2) Chi nhánh C, Tổ 2, khu phố D, thị trấn C, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có yêu cầu vắng mặt)
- Bị đơn: Hồ Kim Y, sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ B, ấp E, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Ngày 29/09/2022, ông Hồ Kim Y có ký với Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Y, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 970403-2909 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi ông Hồ Kim Y được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng thì ông Hồ Kim Y đã vay tiêu dùng trên S2 có số thẻ 211251-7378. Ông Hồ Kim Y sử dụng đồng thời hai thẻ trên. Số tiền nợ gốc và lãi của ông Hồ Kim Y được Ngân hàng tính trên mức tiền sử dụng và dư nợ của thẻ tín dụng số 970403-2909 và khoản vay tiêu dùng số 211251- 7378 mang tên ông Hồ Kim Y.
Ông Hồ Kim Y đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền lũy kế là 20.950.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Hồ Kim Y đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 14.105.337 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Hồ Kim Y vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Hồ Kim Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 25/09/2023 và ngày 15/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Do vậy, Ngân hàng TMCP S1 khởi kiện yêu cầu ông Hồ Kim Y trả tiền nợ gốc và lãi suất theo thỏa thuận. Đề nghị Tòa án buộc ông Hồ Kim Y trả cho Ngân hàng TMCP S1 các khoản sau: Nợ gốc: 11.194.861 đồng; Tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/8/2024 là 3.015.425 đồng Tổng cộng: 14.210.286 đồng (Mười bốn triệu hai trăm mười ngàn hai trăm tám mươi sáu đồng).
Đề nghị Tòa án buộc ông Hồ Kim Y có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 16/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
- Bị đơn ông Hồ Kim Y: Ông Hồ Kim Y được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vắng mặt, không có ý kiến trình bày trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
+ Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiến nghị có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án:
Do ông Hồ Kim Y vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP S1 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Hồ Kim Y trả cho Ngân hàng TMCP S1 các khoản sau: Nợ gốc: 11.194.861 đồng; Tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/8/2024 là 3.015.425 đồng. Tổng cộng: 14.210.286 đồng (Mười bốn triệu hai trăm mười ngàn hai trăm tám mươi sáu đồng).
Đồng thời buộc ông Hồ Kim Y có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 16/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng.
Án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngân hàng TMCP S1 khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là ông Hồ Kim Y. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện H nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn Hồ Kim Y đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hợp đồng tín dụng: Theo các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp và hồ sơ Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Ngày 29/09/2022 căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Y, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 970403-2909 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi ông Hồ Kim Y được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng thì ông Hồ Kim Y đã vay tiêu dùng trên S2 có số thẻ 211251-7378. Ông Hồ Kim Y sử dụng đồng thời hai thẻ trên. Khi ký kết các bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hợp đồng ký kết không trái pháp luật, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên là cơ sở để ràng buộc quyền, nghĩa vụ của các bên.
Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Y, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 970403-2909 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi ông Hồ Kim Y được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng thì Ông Hồ Kim Y đã vay tiêu dùng trên S2 có số thẻ 211251-7378. Ông Hồ Kim Y sử dụng đồng thời hai thẻ trên.
[3] Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Y đã thực hiện các giao dịch thông qua thẻ tín dụng số 970403-2909 và khoản vay tiêu dùng số 211251- 7378 với tổng số tiền lũy kế là 20.950.000 đồng, ông Y đã thanh toán 14.105.337 đồng (Gồm 9.755.139 đồng tiền nợ gốc và 4.350.198đ tiền lãi). Đối với số tiền còn lại Ngân hàng nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Y vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 25/09/2023 và ngày 15/11/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, sau đó khởi kiện yêu cầu ông Y thanh toán khoản nợ là có cơ sở.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Kim Y được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Tòa án căn cứ hồ sơ tín dụng để giải quyết vụ án. Do ông Hồ Kim Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S1 khởi kiện yêu cầu ông Hồ Kim Y trả số tiền nợ gốc: 11.194.861 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận. Việc tính lãi của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết, không vi phạm quy định pháp luật về cách tính lãi và lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông Hồ Kim Y trả cho Ngân hàng TMCP S1 tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/8/2024 là 3.015.425 đồng. Tổng cộng: 14.210.286 đồng (Mười bốn triệu hai trăm mười ngàn hai trăm tám mươi sáu đồng)
Ông Hồ Kim Y có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 16/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết.
[7] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP S1 được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S1 320.000đ (ba trăm hai mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn ông Hồ Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 710.514đ (bảy trăm mười nghìn năm trăm mười bốn đồng).
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 146, 147, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, 303 của Bộ luật dân sự; Án lệ 08/2016.
- Áp dụng khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng hợp nhất năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006;
- Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 (Do Ngân hàng TMCP S1 chi nhánh C đại diện theo ủy quyền).
-
Buộc ông Hồ Kim Y có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền nợ gốc: 11.194.861 đồng; Tiền lãi quá hạn tính đến ngày 16/8/2024 là 3.015.425 đồng Tổng cộng: 14.210.286 đồng (Mười bốn triệu hai trăm mười ngàn hai trăm tám mươi sáu đồng).
Kể từ ngày 16/8/2024 ông Hồ Kim Y phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trên dư nợ gốc thực tế.
-
Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP S1 được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S1 320.000đ (ba trăm hai mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005242 ngày 17/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản..
Bị đơn ông Hồ Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 710.514đ (bảy trăm mười nghìn năm trăm mười bốn đồng).
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Thủy |
Bản án số 24/2024/DSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 24/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hđ tín dụng
