1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/DS-ST
Ngày 15-5-2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Trần Văn Tảo;
- + Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Trúc Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXX-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Hoàng Thị L, sinh năm 1962; cư trú tại tổ D, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
- Bị đơn: bà Ngô Thị B, sinh năm 1987 và ông Trần Văn L1, sinh năm 1985; cùng cư trú tại tổ H, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 01 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Hoàng Thị L trình bày:
Vào ngày 10/10/2022 AL (tức là ngày 03/11/2022 DL), bà L có mở 01 dây hụi 2 triệu/tháng, gồm 24 phần; ông L1, bà B tham gia 02 phần, trong danh sách hụi số thứ tự số 01, 02 có tên “BÍCH LƯỢM”. Quá trình tham gia góp hụi cụ thể như sau:
2
+ Vào kỳ đầu tiên (ngày 10/10/2022 AL): bà B đã kêu 550.000 đồng, hốt được 1.450.000 đồng x 23 kỳ hụi chết = 33.350.000 đồng. Trừ tiền thảo hụi (tiền hoa hồng) 1.000.000 đồng, tổng số tiền bà L đã giao cho bà B, ông L1 là 32.350.000 đồng, có làm giấy biên nhận tiền hụi do bà B ký tên xác nhận. Bà B, ông L1 góp tiếp tiền hụi đến tháng 9/2023 AL, tức đã góp được tổng cộng 12 kỳ. Tính đến mãn hụi, còn nợ là 11 kỳ x 2.000.000 đồng = 22.000.000 đồng.
+ Vào kỳ thứ tư (ngày 10/01/2023 AL): bà B đã kêu 570.000 đồng, hốt được 2.000.000 đồng x 03 kỳ hụi sống + 1.430.000 đồng x 20 kỳ hụi chết = 34.600.000 đồng. Trừ tiền thảo hụi (tiền hoa hồng) 1.000.000 đồng, tổng số tiền bà L đã giao cho bà B, ông L1 là 33.600.000 đồng, có làm giấy biên nhận tiền hụi do bà B ký tên xác nhận. Bà B, ông L1 góp tiếp tiền hụi đến tháng 9/2023 AL, tức đã góp thêm 09 kỳ hụi chết. Tính đến mãn hụi, còn nợ là 11 kỳ x 2.000.000 đồng = 22.000.000 đồng. Việc bà B tham gia hụi với bà L, ông L1 đều biết; tiền nợ hụi phát sinh trong thời kỳ vợ chồng còn chung sống với nhau, do đó: bà Hoàng Thị L yêu cầu bà Ngô Thị B và ông Trần Văn L1 phải thanh toán tổng số tiền hụi là 44.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, bà Hoàng Thị L rút một phần yêu cầu khởi kiện: không yêu cầu ông Trần Văn L1 có nghĩa vụ trả nợ cùng bà Ngô Thị Bích .
Bị đơn - bà Ngô Thị B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn do đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thụ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 16 Nghị quyết 19/2019/NQ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L, buộc bà Ngô Thị B hoàn trả 44.000.000 đồng, ghi nhận bà L không yêu cầu tiền lãi; đình chỉ yêu cầu của bà L đối với ông L1; bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:
[1] Về việc vắng mặt của đương sự: nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L, buộc bà Ngô Thị B, ông Trần Văn L1 có nghĩa vụ trả số tiền hụi 44.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguyên đơn khởi kiện ngày 08 tháng 01 năm 2024 và cung cấp chứng cứ là bản gốc 02 giấy biên nhận được viết bằng mực viết bi màu xanh trên giấy tập học sinh có ký tên Ngô Thị Bích . Nguyên đơn yêu cầu bà B và chồng là ông L1 cùng có nghĩa vụ trả nợ chung.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông L1 cùng trả nợ với bà B. Việc rút đơn hoàn toàn tự nguyênh nên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đã rút của nguyên đơn (dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 03/11/2022).
Bị đơn Ngô Thị B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có ý kiến phản đối và không đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh về việc đã trả tiền hụi chết cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ kiện để xem xét. Nguyên đơn tự nguyện xác định sau khi hốt 02 phần hụi của dây hụi mở ngày 03/11/2022, sau khi hốt hụi bị đơn đã đóng hụi đến hết tháng 9 năm 2023, đây là sự tự thừa nhận của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Và tiếp tục buộc bị đơn thanh toán tiền nợ hụi chưa đóng từ tháng 10 năm 2023 đến khi mãn hụi là 11 kỳ x 2.000.000 = 22.000.000 x 2 phần = 44.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 16 Nghị quyết 19/2019/NQ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường quy định về nghĩa vụ của hụi viên sau khi đã hốt hụi. Nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi nên ghi nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm 5% x 44.000.000 = 2.200.000 đồng theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ghi nhận nguyên đơn được xét miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Nghị quyết 19/2019/NQ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L đối với bà Ngô Thị B về tranh chấp hợp đồng góp hụi:
Buộc bà Ngô Thị B có nghĩa vụ trả cho bà Hoàng Thị L số tiền 44.000.000 (bốn mươi bốn triệu) đồng; ghi nhận bà L không yêu cầu tiền lãi.
Kể từ ngày bà Hoàng Thị L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bà Ngô Thị B còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Hoàng Thị L đối với ông Trần Văn L1 về tranh chấp hợp đồng góp hụi.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Hoàng Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
Bà Ngô Thị B phải chịu 2.200.000 (hai triệu, hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 24/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
