Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

NAM

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST.

Ngày: 15/4/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đức Dũng - Hưu trí.
  2. Vũ Thị Thùy Dương - Hiệu trưởng Trường tiểu học Long Giao.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ, ngày 28/3/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang T, sinh năm 2004, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1967; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/9/2023 đến ngày 05/10/2023 chuyển tạm giam, đến ngày 17/01/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Bị cáo có mặt)

Bị hại: Cháu Phạm Thị Phương U, sinh ngày 16/4/2010. (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Bùi Thị H, sinh năm: 1983- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1969. (có mặt).

1

Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 09/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Quang T kết bạn với Phạm Thị Phương U. T sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Quang T” nhắn tin với U sử dụng tài khoản facebook "Phạm Thị Như U1". Trong thời gian quen biết, T đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với U1, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 10/9/2023, T hẹn U1 ra phía trước cổng nghĩa địa N thuộc ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để nói chuyện. Trong lúc TU1 tâm sự, T đề nghị U1 cho T quan hệ tình dục thì U1 đồng ý. T dẫn U1 đi vào trại nấm bỏ hoang đối diện nghĩa địa N để thực hiện việc giao cấu. Tại đây, T đã thực hiện hành vi giao cấu với U1 01 lần. Sau khi giao cấu xong, T có mua cho U1 01 viên thuốc tránh thai để U1 uống.

Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 17/9/2023, TU1 tiếp tục gặp nhau tại trại nấm đối diện nghĩa địa ấp N để thực hiện hành vi giao cấu. Lần này, T dẫn U1 đi vào bên trong trại nấm, cách vị trí lần trước 10m. Sau khi U1 cởi quần áo, T lấy áo khoác trải xuống nền đất để U1 nằm xuống và T đeo bao cao su, thực hiện hành vi giao cấu với U1. Khoảng 30 phút sau thì T xuất tinh vào bao cao su.

Ngày 26/9/2023, sau khi biết tin gia đình U1 gửi đơn trình báo về việc U1 bị xâm hại tình dục thì T đã đến Công an xã X để đầu thú về hành vi phạm tội như trên.

Tại Bản Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 0950/KLTDTE-TTPYĐN ngày 09/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Màng trinh: Hình chóp, đường kính lỗ trinh 1,6cm. Màng trinh rách cũ vị trí 06 giờ và 09 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSCM ngày 23/01/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; 38; 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Quang T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 60.000.000 đồng và bị can đồng ý. Hiện đã bồi thường được 50.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 điện thoại di động Redmi Note 10 màu xanh cho Nguyễn Quang T. Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, cho Phạm Thị Phương U.

2

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo tiếp tục đi học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/9/2023 đến ngày 17/9/2023, tại Trại nấm bỏ hoang, thuộc ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Quang T đã hai lần có hành vi giao cấu với Phạm Thị Phương U. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, khoản 2, Điều 145 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm S là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền được pháp luật bảo vệ về nhân phẩm, danh dự, sức khỏe và sự phát triển bình thường đối với trẻ em của pháp luật. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến đời sống trong cộng đồng dân cư, cần xử bị cáo một mức án đúng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu; đầu thú; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo đang là sinh viên Trường Cao đẳng C, nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của

3

khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập sau khi chấp hành xong hình phạt, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về vật chứng vụ án:

Trả lại 01 điện thoại di động Redmi Note 10 màu xanh choNguyễn Quang Tuấn.

Trại lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, cho Phạm Thị Phương U.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu giải quyết phần dân sự. Nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

[7] Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

- Áp dụng: Điểm a, khoản 2, Điều 145; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2023 đến ngày 17/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại 01 (một) điện thoại di động Redmi Note 10 màu xanh cho Nguyễn Quang T.

Trại lại 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, cho Phạm Thị Phương U.

(Toàn bộ vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/01/2024).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4

Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Cẩm Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ;
  • - Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp
  • của bị hại; Người bảo vệ quyền và lợi ích
  • hợp pháp cho bị hại.
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoài Bảo

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Vũ Thị Thùy Dương- Lê Đức Dũng

Nguyễn Hoài Bảo

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Cẩm Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ;
  • - Bị cáo; bị hại; người đại diện theo
  • ủy quyền của bị hại; Người bảo vệ
  • quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại.
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoài Bảo

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

5

Lại Thị Thúy Hằng- Lê Đức Dũng

Nguyễn Hoài Bảo

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Tuấn phạm tội giao cấu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger