Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HSST

Ngày: 15- 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Quyền
  2. Bà Võ Tuyết Kha.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Út Em - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Nhà thiết chế văn hóa ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1960; tại: Huyện P, tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Áp V, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn H (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L (Đã chết); chồng: Nguyễn Văn A; con: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị khởi cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Đ: Ông Trịnh Thanh N, là luật sư thuộc Văn phòng luật sư Trịnh Thanh M – Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Việt T, sinh năm 1980 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiếp nhận tố giác về tội phạm của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bạc Liêu chuyển để giải quyết theo thẩm quyền nội dung vào năm 2021- 2022, bà Nguyễn Thị Đ có vay mượn của bà Nguyễn Việt T số tiền 1.088.000.000 đồng, ông Nguyễn Hữu T1 số tiền 169.000.000 đồng, bà Lê Bé B số tiền 160.000.000 đồng, bà Cao Thị Thu G số tiền 1.037.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị P số tiền 110.000.000 đồng và bà Võ Thị P1 số tiền 195.000.000 đồng và hứa sẽ trả tiền đúng thời hạn, nhưng đến thời hạn trả tiền bị cáo Nguyễn Thị Đ không thực hiện việc trả nợ mà cố tình tránh né, không liên lạc được.

Quá trình điều tra chứng minh được, vào ngày 08/9/2022 do không có tiền chi xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Thị Đ một mình đi đến nhà của chị Nguyễn Việt T thuộc ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu đưa ra thông tin gian dối “Nói là lo đám tang cho anh rể tên C, bị cáo Nguyễn Thị Đ mượn của chị Nguyễn Việt T số tiền 70.000.000 đồng. Chị Nguyễn Việt T tin tưởng đưa số tiền 70.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Thị Đ mượn để lo đám tang cho anh rể tên C nhưng thông tin trên là sai sự thật, tại thời điểm này anh C không có chết. Bị cáo Nguyễn Thị Đ đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng của chị T để sử dụng vào mục đích chi xài cá nhân.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS - HS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt chỉ mong Hội đồng xem xét giảm án đến mức thấp nhất cho bị cáo.

Bị hại đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, Với bản tính xem thường pháp luật, vào ngày 08/9/2022 Nguyễn Thị Đ một mình đi đến nhà chị Nguyễn Việt T đưa ra thông tin gian dối “Cần số tiền 70.000.000 đồng lo đám tang cho anh rễ tên C”, tại thời điểm này ông C không có chết. Do tin tưởng, Nguyễn Việt T đồng ý cho mượn số tiền 70.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Thị Đ sử dụng chỉ xài cá nhân hết.

[2.2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và thực hiện đến hoàn thành tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo lợi dụng lòng tin của bị hại, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật để chiếm đoạt của bị hại số tổng số tiền 70.000.000 đồng và bỏ trốn khỏi địa phương, hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đưa ra mức hình phạt là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng tình hình tội phạm trên địa bàn huyện đang diễn biến phức tạp, đặc biệt liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản của người khác bằng nhiều hình thức khác nhau nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để hạ khung hình phạt cho bị cáo. Đồng thời cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm mang tính răn đe cho bản thân của bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong nên không đặt ra xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

[2.6] Đối với việc bị cáo Nguyễn Thị Đ vay, mượn nợ bà Nguyễn Việt T số tiền 250.000.000 đồng: Vay, mượn nợ của ông Nguyễn Hữu T1 số tiền 169.000.000 đồng; Vay, mượn nợ của bà Cao Thị Thu G số tiền 50.000.000 đồng. Đây là giao dịch dân sự diễn ra trong thời gian dài, việc vay tiền là sự thoả thuận giữa các bên, không có hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản, có thực hiện việc trả lãi trong thời gian dài nên không có dấu hiệu của tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.7] Đối với số tiền 160.000.000 đồng bà Lê Bé B tố giác Nguyễn Thị Đ chiếm đoạt: Mặc dù, Nguyễn Thị Đ không thừa nhận có vay số tiền 160.000.000 đồng của bà Lê Bé B nhưng có tài liệu, căn cứ xác định bà Đ có vay số tiền trên. Xác định đây là giao dịch dân sự, việc vay tiền là thoả thuận giữa các bên, có tính lãi suất nên không có dấu hiệu tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.8] Đối với số tiền còn lại của những người tố giác trình bày: Bà Nguyễn Việt T số tiền là 768.000.000 đồng; Bà Cao Thị Thu G số tiền là 987.000.000 đồng; Bà Võ Thị P1 số tiền là 195.000.000 đồng; Bà Huỳnh Thị P số tiền là 110.000.000 đồng. Qua đối chất, Nguyễn Thị Đ không thừa nhận có vay, mượn số tiền trên của những người tố giác, ngoài lời khai của những người tổ giác thì không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh việc vay, mượn nợ tiền của Nguyễn Thị Đ1, không có căn cứ xác định nên không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn theo quy định.

Từ những phân tích nêu trên, xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” .
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án
  1. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  2. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn theo quy định.

Án xử sơ thẩm hình sự công khai có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện KSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - CQĐT Công an huyện Phước Long;
  • - Phòng HSNV công an Phước Long;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 24/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger