Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-PT

Ngày 15-8-2024

V/v “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu trả nợ chung; yêu cầu chia chi phí sửa nhà ở, chi phí khởi kiện”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2023/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu trả nợ chung; yêu cầu chia chi phí sửa nhà ở, chi phí khởi kiện”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4764/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Trần Văn K, sinh năm 1967; nơi cư trú: 524 Quốc lộ I, ấp V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: bà Liềm H (tự V), sinh năm 1970; nơi cư trú: F T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Liềm H1: Luật sư Đặng Khải N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần Đ; địa chỉ: C H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Lý G, sinh năm 1927; nơi cư trú: F T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Lý G là: ông Liềm T (con bà Lý G), sinh năm 1966; nơi cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, theo giấy ủy quyền ngày 11/12/2023 (vắng mặt).

  1. Ông Liềm Tệch L, sinh năm 1990; nơi cư trú: A N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt)
  2. Bà Hà Thị S, sinh năm 1933; nơi cư trú: 524 Quốc lộ I, ấp V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà S: ông Trần Ngọc P, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, văn bản ủy quyền ngày 09/9/2022 (có mặt).

  1. Bà Trần Thị C (tự M), sinh năm 1957; nơi cư trú: Số E, Tổ A, ấp V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (xin xét xử vắng mặt).
  2. Ông Trần Tấn P1 (tự T1), sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ A, ấp V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (xin xét xử vắng mặt).
  3. Ủy ban nhân dân huyện C; địa chỉ: ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (xin xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Liềm H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tố tụng khởi kiện, khởi kiện bổ sung, nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày và ý kiến cụ thể như sau:

Về tài sản chung gồm:

- Xe ô tô tải BKS 67L-9338, nhãn hiệu Suzuki, số máy F10AID703103, số khung A21T8V100066 theo giấy đăng ký xe ô tô số 002547 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 10/6/2008 cho Trần Văn K đứng tên. Hiện nay xe ô tô tải do bà L1 Húng quản lý, sử dụng. Trị giá tài sản khoảng 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), ông K đồng ý giao xe tải cho bà L1 Húng tiếp tục sở hữu, đề nghị bà Liềm H1 hoàn lại ½ giá trị chiếc xe là 50.000.000 đồng (đã thỏa thuận xong không yêu cầu Tòa án giải quyết); Tài sản về hoa kiểng như: cây mai chiếu thủy, cây kim quất, cây bằng lăng tím, cây khế, cây dừa, cây mai vàng, tổng trị giá khoảng 60.000.000 đồng (đã thỏa thuận xong không yêu cầu Tòa án giải quyết).

- 01 (một) nền nhà tại khu trường Đại học A, diện tích sử dụng: 50m2, mục đích sử dụng: đất thổ cư, tọa lạc tại đường V, tổ H, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. Thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay đất bỏ trống không ai quản lý, sử dụng. Trị giá tài sản khoảng 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), ông K đồng ý nhận nền nhà và hoàn lại cho bà L1 Húng ½ giá trị nền là 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng).

- 02 (hai) nền nhà tại khu dân cư S, số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,5m x 20m x 2 = 168m2, mục đích sử dụng: đất thổ cư, tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhận sang nhượng từ Công ty Đ, trên đất có nhà kho: khung tiền chế, vách xây gạch + tole, nền tráng xi măng, trần lợp tole. Hiện nay do bà L1 Húng quản lý, sử dụng, trị giá tài sản khoảng 1.052.000.000 đồng, ông K đồng ý nhận 01 (một) nền nhà và bà L1 Húng nhận 01 (một) nền nhà, riêng nhà kho trị giá khoảng 100.000.000 đồng bên nào nhận thì hoàn lại ½ giá trị nhà kho cho bên kia.

- Căn nhà kết cấu khung bê tông cốt thép + vách xây gạch + nền lót gạch + trần lợp tole. Căn nhà được xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng riêng của bà Liềm H, tọa lạc tại số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Hiện nay do bà L1 Húng quản lý, sử dụng, trị giá căn nhà khoảng 500.000.000 đồng. Ông K đồng ý giao căn nhà trên cho bà L1 Húng tiếp tục sử dụng và yêu cầu bà Liềm H1 hoàn lại ½ giá trị căn nhà là 250.000.000 đồng cho ông.

- Về tiền: tiền mặt 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Nguồn gốc số tiền là do bà Lý Gết t cho ông Trần Văn K, vì bà Lý G là người có đất bị thu hồi và tài sản bị thiệt hại khi làm cầu N, bà Lý G ủy quyền cho ông Trần Văn K nên bà Lý G được bồi thường tăng lên, do đó bà Lý Gết t cho ông K số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Hiện nay bà Liềm H1 đang giữ số tiền đó. Ông K đề nghị bà Liềm H1 hoàn lại ½ số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

- Vật liệu xây dựng ồ trang trí nội thất tại cửa lồng K2 thuộc quyền sử dụng ất diện tích 110m2 răng của bồ Liềm H, tọa lạc tại số F, ường T, khĩm B, phường B, trình phố L, tỉnh An Giang hiện nay do bồ L1 Húng quản lý, sử dụng. Trị giá tài sản khoảng 675.000.000 đồng. Ơng K đồng ý giao cho bà L1 Húng tiếp tục sở hữu ề sử dụng, yêu cầu bà Liềm H1 hoàn lại ½ giá trị là 337.500.000 đồng.

- Tổng giá trị tài sản ông K đề nghị được nhận (chia tài sản chung) là 1.517.500.000 đồng.

Về nợ chung của vợ chồng ông K xác định:

- Nợ bà Lý G số tiền 450.000.000 đồng, nguyên nhân mượn nợ là để cất kho tại khu đất S, B (02 nền đất khu S). Ông K đồng ý trả bà Lý G ½ số tiền nợ là 225.000.000 đồng, bà Liềm H1 có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ còn lại là 225.000.000 đồng cho bà Lý G.

- Nợ ông Liềm T2 Lếng số tiền 50.000.000 đồng, nguyên nhân mượn nợ làm chi phí khiếu kiện tranh chấp thiệt hại về căn nhà số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Ông K đồng ý trả ½ số tiền nợ là 25.000.000 đồng cho ông T2 Lếng, phần bà Liềm H1 có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ còn lại là 25.000.000 đồng cho ông Tệch L.

- Ơng K khởi kiện bổ sung chia ơi số tiền 1 ti sản chung đng vo việc sửa chữa, mua sắm trang thiết bị chung cho căn nổi số F, ường T, khĩm B, phường

B, trình phố L, tỉnh An Giang. Hiện nay do ồ L1 Ħng quản lî, sử dụng số tiền 637.609.000 ồng, bởi số tiền 637.609.000 ồng ì tiền chung của vợ chồng trong thời kỳ hơn nhìn trả công thợ xây nhà kho chứa lồng hóa tăn số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,5m x 20m x 2 = 168m2 tại khu S, phường B, chi phí kiện tụng trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại trong xây dựng nhà liền kề nhà ông và bà H1 với vợ chồng ông Võ Nhất L2 (chi phí giám định về thiệt hại, chi phí tố tụng khác...), chi phí thuê công thợ cất nhà tiền chế liền kề căn nhà số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang hiện nay do bà L1 Húng quản lý, nên yêu cầu bà H1 hoàn trả cho ông ½ giá trị số tiền 637.609.000 đồng.

- Đối với yêu cầu độc lập của bà S, ông P1 và bà C về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất ở gắn liền nhà ở cho các đương sự, ông K, bà H1 cùng có ý kiến xác định đối với yêu cầu của bà S, ông Tấn P1, bà C thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, đề nghị xử lý án phí, chi phí tố tụng theo pháp luật.

- Yêu cầu tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm bà H1 xuất cảnh để đảm bảo việc thi hành án về tài sản cho ông.

Trong quá trình tố tụng, khởi kiện yêu cầu phản tố, bà Liềm H1 có ý kiến và yêu cầu cụ thể như sau:

Bà Liềm H thống nhất nội dung tài sản chung như ông K trình bày; riêng căn nhà số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, nhà hiện nay do bà L1 Húng quản lý, sử dụng là tài sản riêng của bà được mẹ bà tên Lý Gết t cho riêng bà năm 2005, nhà đất do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở cho riêng bà, nên bà có ý kiến không đồng ý chia giá trị nhà cho ông K, tiền chung đầu tư sửa nhà bà không đồng ý yêu cầu của ông K, yêu cầu chia tài sản chung theo pháp luật và yêu cầu các tài sản, nợ chung như sau:

Về tài sản chung:

- Bà yêu cầu chia tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08092 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 26/10/2017 cho ông Trần Văn K và bà Liềm H, diện tích sử dụng 1.388,50m2; Thửa đất: 13; Tờ bản đồ số: 62, nhà và đất ở tại địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, có giá trị khoảng 700.000.000 đồng.

- Những tài sản chung khác như ông K trình bày, yêu cầu chia theo pháp luật.

Về nợ chung của bà với ông K, bà H xác định và yêu cầu:

- Yu cầu ơng K phải cĩ tích nhiệm thanh tốn khoản nợ của Cơng ty ối ức kinh doanh trong thời kỳ hơn nĥn 1 146.000.000 ồng, mỗi bn cĩ tích nhiệm thanh tốn ½ số nợ tăn 1 73.000.000 ồng.

- Nợ bà Lý G số tiền 450.000.000 đồng, nguyên nhân mượn nợ là để cất kho tại khu đất S, B (02 nền đất khu S). Ông K có trách nhiệm trả bà Lý G ½ số tiền nợ là 225.000.000 đồng, bà Liềm H1 có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ còn lại là 225.000.000 đồng cho bà Lý G.

- Nợ ông Liềm T2 Lếng số tiền 50.000.000 đồng, nguyên nhân mượn nợ làm chi phí khiếu kiện tranh chấp thiệt hại về căn nhà số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Ông K có trách nhiệm trả ½ số tiền nợ là 25.000.000 đồng cho ông T2 Lếng, phần bà Liềm H1 có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ còn lại là 25.000.000 đồng cho ông Tệch L.

- Bà với ông K còn nợ bà Lý G mẹ bà 200.000.000 đồng, nên yêu cầu ông K trả ½ số tiền 200.000.000 đồng cho bà Lý G, phần bà trả ½ số tiền 200.000.000 đồng cho bà Lý G (có biên nhận nợ bà với ông K ký mượn tiền).

- Bà Liềm H yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Quyết định số: 06/2019/QĐ-BPKCTT ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang) về việc cấm bà xuất cảnh, để tạo điều kiện cho bà điều kiện xuất cảnh theo quy định pháp luật.

Tại biên bản đối chất ngày 13/9/2022, biên bản hòa giải ngày 06/6/2023 ông K, bà Liềm H1 cùng thống nhất tự thỏa thuận về giải quyết chia tài sản chung, về nợ chung, về nghĩa vụ đối với tài sản như sau:

1. Một phần nợ chung, ti sản chung ơng K, ồ H1 thống nhất thỏa thuận xong ĩ1:

- Đối với khoản nợ ông Liềm T2 Lếng số tiền 50.000.000 đồng, ông K, bà H1 thống nhất xác định vợ chồng nợ ông L 50.000.000 đồng, nay ông K và bà H1 tự nguyện mỗi người phải có trách nhiệm trả cho ông L 25.000.000đ.

2. Những tài tài sản chung nhà, đất ông K, bà H1 thống nhất, thỏa thuận xong như sau:

1. Ông K, bà H1 cùng xác định tài sản chung là 01 nền nhà tại khu Trường Đại học A, diện tích sử dụng: 50m2, mục đích sử dụng: đất thổ cư, tọa lạc tại đường V, tổ H, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang, thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay đất bỏ trống không ai quản lý, sử dụng, trị giá tài sản khoảng 150.000.000 đồng, ông K, bà H1 xác định diện tích đất 59,9m2 theo kết quả đo vẽ ngày 02/3/2022 là đúng, ông K đồng ý giao nền nhà diện tích 50m2 tại phường Đ cho bà H1, bà H1 trả ½ giá trị tài sản chung theo chứng thư định giá ngày 09/5/2023 cho ông K nhận tiền.

2. Ông K, bà H1 cùng xác định tài sản chung là 02 nền nhà tại khu dân cư S, số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,2m x 20m x 2 = 168m2, mục đích sử dụng đất thổ cư, tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng từ Công ty Đ, trên đất có nhà kho khung tiền chế, vách xây gạch + tole, nền tráng xi măng, trần lợp tole. Hiện nay do bà Liềm H1 quản lý, sử dụng (trên đất có nhà kho để hàng trị giá 100.000.000 đồng), ông K đồng ý giao 02 nền nhà tại khu dân cư S, số

lô N2, số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,2m x 20m x 2 = 168m2 tại 7.887.095.000 đồng, bà H1 hoàn lại cho ông, ông K đồng ý theo chứng thư định giá 7.887.095.000 đồng ngày 09/5/2023 cho ông K nhận tiền.

- Bà H1 tự trả cho Công ty Đ 33.600.000đ theo hợp đồng góp vốn liên doanh ngày 22/4/2013 theo quy định, bà H1 tự nguyện hoàn trả giá trị nhà kho cất trên 2 nền đất trên cho ông K số tiền 50.000.000 đồng.

- Tấp ổn S1 sau khi nhận được thượng bọ thu lí vụ n khơng cĩ Đơn khởi kiện ỹu cầu ộc lập, khơng tham gia ối chất, cng khai chứng cứ, hịa giải, chi cĩ văn bản trình bỳ í kiến, trả lí suất theo quy ịnh của phíp luật ối với số tiền gốc 33.600.000 đồng.

- Vật liệu xây dựng và trang trí nội thất tại cửa hàng K2 thuộc quyền sử dụng đất diện tích 110m2 riêng của bà Liềm H, tọa lạc tại số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang hiện nay do bà L1 Húng quản lý, ông K, bà H thống nhất trị giá tài sản là 675.000.000 đồng. Ông K đồng ý giao cho bà L1 Húng tiếp tục sở hữu vật liệu xây dựng và trang trí nội thất tại cửa hàng Khanh Vân cho bà H sử dụng, bà Liềm H đồng ý hoàn lại ½ giá trị là 337.500.000 đồng, bà H1 đồng ý nhận toàn bộ vật liệu xây dựng, trị giá 675.000.000 đồng, bà sẽ hoàn lại cho ông K nhận số tiền 337.500.000 đồng.

Những khoản nợ chung, tài sản chung ông K, bà H1 không thỏa thuận được đề nghị tòa án giải quyết:

- Đối với khoản nợ bà Lý G (mẹ vợ ông K, mẹ ruột bà H1) số tiền 450.000.000 đồng các đương sự có ý kiến như sau: Ông K chỉ đồng ý trả cho bà Lý G 125.000.000 đồng, phần còn lại 125.000.000 đồng là trách nhiệm của bà H1 trả cho bà Lý G, ông K không đồng ý trả cho bà Lý G (mẹ vợ ông K, mẹ ruột bà H1) 225.000.000 đồng, bà H1 yêu cầu ông K với bà cùng trách nhiệm trả cho bà Lý G (mẹ vợ ông K, mẹ ruột bà H1) số tiền 450.000.000 đồng.

- Ông K cho rằng về căn cứ pháp luật thì tài sản nhà đất tọa lạc tại số F, diện tích đất 110m2 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho cá nhân bà H1 ngày 24/5/2005, tọa lạc tại đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, nay do bà L1 Húng quản lý, sử dụng có được chấp nhận hay không thì do Hội đồng xét xử quyết định theo quy định pháp luật.

- Bà Liềm H xác định căn nhà kết cấu khung bê tông cốt thép + vách xây gạch + nền lót gạch + trần lợp tole, tọa lạc tại số F gắn liền diện tích đất 110m2, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang nay do bà L1 Húng quản lý, sử dụng là tài sản của bà, vì nhà đất này bà được mẹ bà Lý Gết t cho riêng bà H1 được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho cá nhân bà H ngày 24/5/2005, nên không đồng ý chia giá trị tài sản căn nhà này theo yêu cầu của ông K.

- Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH08092 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 26/10/2017 cho ông Trần Văn K và bà Liềm H, diện tích sử dụng 1.388,50m2; thửa đất: 13; tờ bản đồ số 62, nhà và đất ở tại địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (kết quả định giá đất, tài sản trên đất ngày 04/5/2023 tổng số tiền là 11.070.362.560 đồng).

Tại buổi đối chất, hòa giải, các đương sự có ý kiến đối với tài sản này như sau:

- Bà H: yêu cầu chia tài sản chung căn nhà gắn liền diện tích 75m2 nối liền sân nhà giáp lộ (diện tích sân nhà chưa được đo vẽ, chưa xác định diện tích) nằm trong tổng diện tích 1.388,50m2 do bà và ông K được cấp quyền sử dụng ngày 26/10/2017 theo quy định pháp luật nhưng xin nhận giá trị (theo kết quả đo vẽ của Công ty H5, kết quả định giá đất ngày 04/5/2023, nhưng có khấu trừ diện tích nhà đất của ông Tấn P1 và bà C đang cất nhà ở).

- Sau đó bà H thay đổi ý kiến (trong phạm vi yêu cầu phản tố), yêu cầu chia tài sản chung diện tích 1.388,50m2 do bà và ông K đứng tên theo quy định pháp luật theo chứng thư thẩm định giá của Công ty Đ1, nhưng có khấu trừ diện tích nhà đất của ông Tấn P1 và bà C đang cất nhà ở theo kết quả đo vẽ của Công ty H5, kết quả định giá đất, tài sản trên đất ngày 04/5/2023 tổng số tiền là 11.070.362.560 đồng.

- Ông K không đồng ý chia tài sản chung nhà, đất thuộc diện tích đất 1.388,50m2 như bà H yêu cầu vì: nguồn gốc đất này là của cha mẹ ông là cụ B (chết năm 2018) và cụ S tạo lập, do ông không am hiểu pháp luật đất đai nên tự kê khai quyền sử dụng đất, tài sản trên cùng bà H vào đứng tên là không đúng quy định.

- Ông K giữ nguyên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm bà Liềm H1 xuất cảnh để vụ án được kết thúc và thi hành án cho ông.

- Ơng Kồng î theo ỹu cầu ộc lập của ồ Ì Thị S ối với ỹu cầu ộc lập của bồ C, ơng P1, ơng ề nghị ắt xử theo phíp luật.

Về số tiền 200.000.000 đồng không thống nhất, ông K, bà H1 có ý kiến như sau:

- Ông K cho rằng bà Lý G có hứa cho ông với bà H1 200.000.000 đồng tuy không có giấy xác nhận tặng cho tiền, nhưng số tiền này bà H1 đang giữ nên bà H1 có trách nhiệm giao lại cho ông 100.000.000 đồng.

- Bà H1 xác định bà G có cho vợ chồng bà mượn 200.000.000 đồng (ông K ký biên nhận để dùng bổ sung tài chính để mua 02 nền ở khu S rồi) không còn tiền mặt như ông K khai, nên không đồng ý trả cho ông K 100.000.000 đồng như ông K yêu cầu.

- Về số tiền 637.609.000 đồng là tài sản chung ông dùng vào việc sửa chữa, mua sắm trang thiết bị chung cho căn nhà số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Hiện nay

do bà Liềm H1 quản lý, sử dụng (là tiền chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân) trả công thợ xây nhà kho chứa hàng hóa trên số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,5m x 20m x 2 = 168m2 tại khu S, phường B, chi phí kiện tụng trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại trong xây dựng nhà liền kề nhà ông và bà H1 với vợ chồng ông Võ Nhất L2 (chi phí giám định về thiệt hại, chi phí tụng khác...), chi phí thuê công thợ cất nhà tiền chế liền kề căn nhà số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang hiện nay do bà L1 Húng quản lý, nên yêu cầu bà H1 hoàn trả cho ông ½ giá trị số tiền 637.609.000 đồng, bà H1 không đồng ý theo yêu cầu ông K.

- B với ơng K cịn nợ bồ Lî G mẹ lồ 200.000.000 ồng, ăn ỹu cầu ơng K trả ½ số tiền 200.000.000 ồng cho ồ Lî G, phần bồ trả ½ số tiền 200.000.000 ồng cho bồ Lî G (cĩ bin nhận nợ bồ với ơng K kî mượn tiền).

Đối với khoản nợ của Công ty đối tác kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân là 146.000.000 đồng chưa thống nhất, ông K bà H1 không thỏa thuận được:

Bà H1 xác định còn nợ Công ty đối tác kinh doanh (địa chỉ trụ sở, tư cách pháp nhân tôi sẽ cung cấp cho Tòa án sau) là tiền mua vật tư xây dựng để kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân là 146.000.000 đồng, nhưng sau đó bà đã trả xong; bà H1, ông K cùng xác định bà H1 đã thanh toán cho Công ty đối tác đủ 146.000.000 đồng xong, không còn nợ công ty đối tác, nên bà H1 yêu cầu ông K phải trả cho bà số tiền 73.000.000₫.

Ông K xác định chỉ còn nợ Công ty đối tác kinh doanh trên là 80.000.000 đồng (các tài liệu, chứng từ kết sổ có chữ ký của tôi đang do bà H1 giữ nên yêu cầu bà H1 cung cấp cho Tòa án). Nên ông chỉ chịu trách nhiệm trả nợ cho Công ty 40.000.000 đồng.

- Các đương sự (bà H1, ông K) xác định bà H1 đã thanh toán cho Công ty đối tác đủ 146.000.000 đồng xong, không còn nợ công ty đối tác này, nên bà H1 yêu cầu ông K hoàn trả lại cho bà 73.000.000 đồng.

Ông K cho rằng chỉ nợ Công ty đối tác 80.000.000 đồng chứ không phải 146.000.000 đồng (nhưng bà H1 đã thanh toán xong số tiền 80.000.000 đồng cho Công ty Đ2), nay ông đồng ý trả lại cho bà H1 40.000.000 đồng.

Trong qu trình tố tụng tại Tịaấn người cĩ quyền lợi nghĩa vụ lăn quan trong vận trình bồy:

- Công ty cổ phần Đ trình bày và yêu cầu cụ thể như sau: Ngày 22/4/2022 Công ty cổ phần Đ với ông K, bà Liềm H1 ký hợp đồng góp vốn liên doanh với nội dung phía Công ty cổ phần Đ bán nền nhà trả góp cho ông K, bà Liềm H1 02 nền nhà (lô N2 số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,5m x 20m x 2 = 168m2 với giá 705.600.000 đồng, đất đã được cấp quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai), ông K, bà Liềm H1 đã thanh toán cho Công ty cổ phần Đ số tiền 672.000.000 đồng nên phải thanh toán thêm cho Công ty cổ phần Đ số tiền 33.600.000 đồng thì kết thúc hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng giữa các bên, sau khi có quyết định việc Tòa án xét xử giữa ông K với bà Liềm H1 thì Công ty cổ phần Đ sẽ thực hiện theo quyết định của Tòa án, ông K hay bà Liềm H1 nếu ai nhận nền nhà thì

phải trả cho Công ty cổ phần Đ số tiền 33.600.000 đồng cho 02 nền nhà nêu trên.

- Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lý G trình bày và yêu cầu cụ thể như sau:

Bà Lý G gửi tờ tự khai xác định vợ chồng ông K, bà Liềm H1 làm biên nhận mượn của bà 450.000.000 đồng, bà không có hứa cho ông K số tiền 200.000.000 đồng trong khoản tiền 450.000.000 đồng như ông K khai; bà yêu cầu ông K và bà H1 trả cho bà số tiền 450.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác; Bà Lý G không thực hiện thủ tục khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án.

- Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ ông Liềm Tệch L trình bày và yêu cầu cụ thể như sau:

Ông L gửi tờ tự khai nêu có cho vợ chồng ông K, bà H1 vay số tiền 50.000.000 đồng, nay ông K và bà H1 tranh chấp chia tài sản chung, ông đề nghị xem xét để bảo vệ quyền lợi cho ông, ông L không nộp đơn khởi kiện xác định rõ có yêu cầu ông K, bà H1 trả số tiền 50.000.000 đồng vốn vay và lãi xuất hay không, ngoài ra không yêu cầu gì khác, ông L không thực hiện thủ tục khởi kiện, nộp án phí sơ thẩm theo yêu cầu của Tòa án.

- Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Hà Thị S do ông Trần Ngọc P đại diện theo ủy quyền cho bà S trình bày và yêu cầu cụ thể như sau:

Nguồn gốc đất tranh chấp bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N1 diện tích khoảng 1.388,50m2 chủ cũ là ông Trần Đắc V1, sau đó Nhà nước làm lộ (có bồi thường xong cho bà), bà chỉ ủy quyền cho ông K con bà tranh chấp khiếu nại, nhận tiền bồi thường, nhưng ông K tự ý lập thủ tục kê khai quyền sử dụng đất, hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông K bà không ký tên gì, ngày 26/10/2017 ông K được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất cho ông K 1.388,50m2, sau đó ông K tự ý lập thủ tục cấp cho ông K và bà H1 đứng tên bà cũng không hay biết (trên đất này có 03 căn nhà gồm nhà của bà, nhà bà C, nhà ông P); nay bà yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CH08092 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 26/10/2017 cho ông Trần Văn K và bà Liềm H; công nhận cho bà quyền sử dụng diện tích 1.388,50m2 đất nêu trên cho bà để bà chia lại cho các con của bà.

Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Trần Thị C trình bày và yêu cầu cụ thể như sau:

Nguồn gốc diện tích 1.388,50m2 đang tranh chấp là của cha bà ông Trần Văn B1 (chết năm 2018) và mẹ bà là Hà Thị S mua của ông Nguyễn Văn N1 diện tích khoảng 1.388,50m2 (giấy tay của cha, mẹ bà mua đất ngày 07/9/1982 có trưởng ấp nơi có đất xác nhận), năm 1983 cha, mẹ bà cho bà diện tích khoảng 300m2 để cất nhà ở từ năm 1983 cho đến nay; nhà, đất gia đình bà đang sử dụng nay thuộc diện tích 1.388,50m2 cấp ngày 26/10/2017 cho ông K và bà Liềm H1 đứng tên theo bản vẽ ngày 26/11/2020 (bản vẽ lại đất tranh chấp ngày 15/02/2023). Năm 2002 Nhà nước thu hồi đất của cha, mẹ bà khoảng 400m2 (có nhận tiền thu hồi đất), đất còn lại

ông K tự ý lập thủ tục kê khai quyền sử dụng đất, hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông K bà không ký tên gì và cũng không hay biết, ngày 26/10/2017 ông K được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất cho ông K 1.388,50m2, sau đó ông K tự ý lập thủ tục cấp cho ông K và bà H1 đứng tên bà cũng không hay biết (trên đất này có 03 căn nhà gồm nhà của bà, nhà bà S, nhà ông P) đến khi ông K, bà H1 tranh chấp chia tài sản chung đối với diện tích đất trên bà mới biết.

Bà không đồng ý việc bà H1 yêu cầu chia tài sản chung đối với căn nhà diện tích 75m2 nối liền sân nhà giáp lộ (diện tích sân nhà chưa được đo vẽ, chưa xác định diện tích) nằm trong tổng diện tích 1.388,50m2 do bà H1 và ông K được cấp quyền sử dụng ngày 26/10/2017 vì: trong diện tích 1.388,50m2 do cha mẹ bà là ông B1 (chết năm 2018), bà S tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân, cha mẹ bà đã cho bà diện tích khoảng 300m2 để cất nhà ở từ năm 1983 đến nay, thực tế bà cất nhà ở diện tích 93,4m2 trên diện tích khoản 300m2 từ năm 1983 cho đến nay, nay bà yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông K và bà H1 đứng tên diện tích 1.388,50m2 cấp ngày 26/10/2017 nêu trên theo bản vẽ ngày 26/11/2020, yêu cầu công nhận cho bà được sử dụng diện tích gắn liền căn nhà trên diện tích đất khoảng 300m2 (số liệu diện tích chính xác được xác định trên kết quả đo vẽ thực tế của cơ quan chuyên môn lập), ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Trần Tấn P1 trình bày và yêu cầu cụ thể như sau:

Ông P1 không đồng ý việc bà H1 yêu cầu chia tài sản chung đối với căn nhà diện tích 75m2 nối liền sân nhà giáp lộ (diện tích sân nhà chưa được đo vẽ, chưa xác định diện tích) nằm trong tổng diện tích 1.388,50m2 do bà H1 và ông K được cấp quyền sử dụng ngày 26/10/2017 vì:

Nguồn gốc diện tích 1.388,50m2 đang tranh chấp là của cha ông là ông Trần Văn B1 (chết năm 2018) và mẹ là Hà Thị S mua của ông Nguyễn Văn N1 diện tích khoảng 1.388,50m2 (giấy tay của cha, mẹ bà mua đất ngày 07/9/1982 có trưởng ấp nơi có đất xác nhận), năm 1983 cha, mẹ ông cho ông diện tích khoảng 300m2 để cất nhà ở từ năm 1983 cho đến nay; nhà, đất gia đình ông đang sử dụng nay thuộc diện tích 1.388,50m2 cấp ngày 26/10/2017 cho ông K và bà Liềm H1 đứng tên theo bản vẽ ngày 26/11/2020 (bản vẽ lại đất tranh chấp ngày 15/02/2023). Năm 2002 Nhà nước thu hồi đất của cha, mẹ ông khoảng 400m2 (có nhận tiền thu hồi đất), đất còn lại ông K tự ý lập thủ tục kê khai quyền sử dụng đất, hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông K ông không ký tên gì và cũng không hay biết, ngày 26/10/2017 ông K được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất cho ông K 1.388,50m2, sau đó ông K tự ý lập thủ tục cấp cho ông K và bà H1 đứng tên ông cũng không hay biết (trên đất này có 03 căn nhà gồm nhà của bà C, nhà bà S, nhà của ông) đến khi ông K, bà H1 tranh chấp chia tài sản chung đối với diện tích đất trên ông mới biết.

Nay ông P1 yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.388,50m2 cấp ngày 26/10/2017 nêu trên theo bản vẽ ngày 26/11/2020 do ông K, bà H1 đứng tên và yêu cầu công nhận diện tích đất ở gắn liền căn nhà của ông

diện tích đất khoảng 300m2 (số liệu diện tích chính xác được xác định trên kết quả đo vẽ thực tế của cơ quan chuyên môn), ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Tại biên bản hòa giải ngày 06/6/2023, ông P1 và bà C cùng trình bày và cùng yêu cầu:

Đất này cha mẹ cho bà C cất nhà ở năm 1984 và cho ông P1 cất nhà ở năm 1983, cha mẹ cho chỉ nói miệng không làm giấy tờ, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.388,50m2 cấp ngày 26/10/2017 do ông K, bà H1 đứng tên, thống nhất kết quả đo đạc đất tranh chấp và kết quả thẩm định giá tài sản tranh chấp, ông bà không có ý kiến gì khác, yêu cầu Tòa án công nhận cho các đương sự được sử dụng diện tích đất ở gắn liền với nhà ở theo kết quả đo vẽ của Công ty H5, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Trong quá trình tố tụng Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến như sau:

Tại Công văn số: 378/UBND-VP ngày 08/5/2023 Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến như sau: Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH08092 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/10/2017, diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, do ông Trần Văn K và bà L1 Húng đứng tên, đất tọa lạc tại xã V (nay thị trấn Vĩnh Thạnh T).

1. Ngày 22/6/2004, ông Trần Văn K, bà Liềm H1 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, có nguồn gốc là đất sang lại của ông Trần Đắc V1 vào năm 1980, đất tọa lạc tại xã V (nay là thị trấn Vĩnh Thạnh T). Hồ sơ có Biên bản đo đạc xác định ranh giới sử dụng, được các hộ tứ cận, cơ quan có thẩm quyền ký tên xác nhận đầy đủ và có Biên bản công khai, kết thúc theo quy định.

Ngày 10/8/2004, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00510.QSDĐ/gF, diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, do ông Trần Văn K và bà L1 Húng đứng tên, đất tọa lạc tại xã V.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2003, Thông tư số 1990/2001/TT.TCĐC ngày 30/11/2001 của T3 về hướng dẫn đăng ký đất đai và Quyết định số 272/2002/QĐ.UB ngày 30/01/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh A về việc ban hành Bản quy định trình tự, thủ tục xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh An Giang thì việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00510.QSDĐ/gF, diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, do ông Trần Văn K và bà Liềm H1 đứng tên là đúng trình tự, thủ tục quy định.

- Ngày 08/8/2017, ông Trần Văn K và bà Liềm H có đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62 nêu trên.

Ngày 26/10/2017, Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH08092, diện tích

1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, do ông Trần Văn K và bà Liềm H đúng tên, đất tọa lạc tại xã V.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Điều 29 Quyết định số 39/2015/QĐ-UBND ngày 17/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh A về việc ban hành Bản quy định về trình tự, thủ tục hành chính về đất đai trên địa bàn tỉnh An Giang thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH08092 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/10/2017, diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, do ông Trần Văn K và bà L1 Húng đứng tên, đất tọa lạc tại xã V (nay là thị trấn Vĩnh Thạnh T) là đúng trình tự, thủ tục quy định.

2. Đối với yêu cầu của bà Hà Thị S, bà Trần Thị C và ông Trần Tấn P1 về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00510.QSDĐ/gF, cấp ngày 10/8/2004 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH08092, cấp ngày 26/10/2017, diện tích 1.388,5m2, thuộc thửa 13, tờ bản đồ số 62, do ông Trần Văn K và bà L1 Húng đứng tên, đất tọa lạc tại xã V thì Ủy ban nhân dân huyện C không có ý kiến, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Người làm chứng: Tại biên bản xác minh ngày 09/11/2023 bà Trần Thị N2, bà Lê Thị N3 người hàng xóm với bà C, ông B1 (chết năm 2018 là chồng bà S) khai, các đương sự không có quan hệ huyết thống với gia đình bà C, ông P1 và bà S, ông K, không rõ việc vợ chồng bà S cho đất ông P1, bà C như thế nào (nội bộ gia đình), nhưng thực tế gia đình bà C, ông P1 đã cất nhà ở trên đất tranh chấp trên 40 năm, thời điểm này ông K chưa cưới vợ, thậm chí quá trình sử dụng đất bà C đã 03 lần sửa nhà ở đến nay không phát sinh tranh chấp, ngoài chỗ ở hiện tại thì các bà biết ông P1, bà C không có đất ở nơi khác (biên bản xác minh có đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn V tham gia ghi biên bản xác minh, có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn V ký xác nhận).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 11 tháng 3 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2, Điều 36 Luật Đất đai năm 1993; Điều 50, Điều 123, Điều 129 Luật Đất đai năm 2003; Điều 100, Điều 105, điểm b, d khoản 2 Điều 100, 106, 166 Luật Đất đai 2013; Điều 15, Điều 205, Điều 213, Điều 22, Điều 613, Điều 649, Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ vào Điều 33, Điều 43, Điều 59, Điều 43, Điều 62, Điều 64 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử phần tài sản chung do ông Trần Văn K và bà Liềm H không yêu cầu Tòa án giải quyết, các tài sản cụ thể đó là:

  • - Tài sản xe ô tô tải BKS 67L-9338, nhãn hiệu Suzuki, số máy F10AID703103, số khung A21T8V100066 theo giấy đăng ký xe ô tô số 002547 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 10/6/2008 cho ông Trần Văn K đứng tên, hiện nay xe ô tô tải do bà L1 Húng quản lý, sử dụng, trị giá tài sản 100.000.000 đồng, ông Trần Văn K đồng ý giao xe tải cho bà L1 Húng tiếp tục sở hữu, bà Liềm H1 hoàn lại ½ giá trị chiếc xe số tiền 50.000.000 đồng cho ông Trần Văn K nhận (đã thỏa thuận xong không yêu cầu Tòa án giải quyết).
  • - Bà Liềm H có quyền đến phòng C1 Công an tỉnh A làm thủ tục sang tên chuyển quyền tài sản chiếc xe ô tô tải BKS 67L-9338, nhãn hiệu Suzuki, số máy F10AID703103, số khung A21T8V100066 theo giấy đăng ký xe ô tô số 002547 do Phòng C1 Công an tỉnh A cấp ngày 10/6/2008 cho Trần Văn K đứng tên sang cho bà đứng tên theo quy định pháp luật.
  • - Tài sản hoa kiểng như: cây mai chiếu thủy, cây kim quất, cây bằng lăng tím, cây khế, cây dừa, cây mai vàng, tổng trị giá khoảng 60.000.000 đồng (đã thỏa thuận xong không yêu cầu Tòa án giải quyết).

2. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Trần Văn K và bà Liềm H về chia tài sản chung sau khi ly hôn đó là:

  • - Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn K, bà Liềm H1 cùng xác định tài sản chung là 01 nền nhà tại khu Trường Đại học A, diện tích sử dụng: 50m2, mục đích sử dụng: đất thổ cư, đất tọa lạc tại đường V, tổ H, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. Thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất bỏ trống không ai quản lý, sử dụng, trị giá tài sản đất này (theo kết quả đo vẽ ngày 02/3/2022 là diện tích đất 59,9m2; kết quả định giá ngày 09/5/2023) là 1.822.000.000 đồng.
  • + Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn K giao cho bà L1 Húng được quyền sử dụng diện tích 59,9m2 (theo kết quả đo vẽ ngày 02/3/2022) đất tọa lạc tại đường V, tổ H, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang để nhận ½ trị giá diện tích nêu trên của số tiền 1.822.000.000 đồng từ bà Liềm H (tương ứng số tiền 911.000.000 đồng).
  • + Công nhận sự tự nguyện của bà Liềm H1 nhận diện tích 59,9m2 (theo kết quả đo vẽ ngày 02/3/2022) đất tọa lạc tại đường V, tổ H, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang trị giá diện tích đất này là 1.822.000.000 đồng, bà Liềm H1 tự nguyện hoàn giá trị tài sản chung cho ông Trần Văn K nhận số tiền 911.000.000 đồng (giá trị tài sản chung ½ số tiền 1.822.000.000 đồng).
  • + Bà Liềm H1 được quyền đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với diện tích 59,9m2 theo bản vẽ của Văn phòng Đ3 - Chi nhánh L3 lập ngày 02/3/2022 theo quy định pháp luật đất đai (sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính cho ông K như đã tuyên phần trên). Bà Liềm H1 phải chịu các nghĩa vụ tài chính khi thực hiện đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 59,9m2 theo quy định của Nhà nước.
  • - Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn K, bà Liềm H1 cùng xác định tài sản chung là 02 nền nhà tại khu dân cư S, số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích sử dụng: 4,2m x 20m x 2 = 168m2 (bản vẽ đo đạc thực tế là diện tích 176m2 của Văn phòng đăng ký Đất đai - Chi nhánh L3 lập ngày 02/3/2022), mục đích sử dụng: đất thổ cư, tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng từ Công ty Đ, trên đất có nhà kho; khung tiền chế, vách xây gạch + tole, nền tráng xi măng, trần lợp tole. Hiện nay do bà L1 Húng quản lý, sử dụng, trị giá theo kết quả định giá là 7.887.095.000 đồng.
  • + Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn K đồng ý giao 02 nền nhà tại khu dân cư S, số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích 176m2 và nhà kho trên diện tích đất 176m2 (theo bản vẽ đo đạc thực tế là diện tích 176m2 của Văn phòng đăng ký Đất đai - Chi nhánh L3 lập ngày 02/3/2022) cho bà L1 Húng sử dụng, ông K đồng ý nhận ½ giá trị 02 nền nhà nêu trên là tài sản chung theo chứng thư định giá ngày 09/5/2023 là 7.887.095.000 đồng do bà L1 Húng hoàn lại cho ông Trần Văn K nhận số tiền 3.943.547.500 đồng (giá trị tài sản chung ½ số tiền 7.887.095.000 đồng).
  • + Công nhận sự tự nguyện của bà Liềm H1 nhận 02 nền nhà tại khu dân cư S số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích 176m2 và nhà kho trên diện tích đất 176m2 (theo bản vẽ đo đạc thực tế là diện tích 176m2 của Văn phòng đăng ký Đất đai - Chi nhánh L3 lập ngày 02/3/2022) mục đích sử dụng: đất thổ cư, tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, bà Liềm H1 tự nguyện hoàn ½ giá trị tài sản chung theo chứng thư định giá 7.887.095.000 đồng ngày 09/5/2023 cho ông

Trần Văn K nhận số tiền 3.943.547.500 đồng (½ giá trị tài sản chung là số tiền 7.887.095.000 đồng).

  • + Bà Liềm H1 được quyền sử dụng diện tích 02 nền nhà tại khu dân cư S, số lô N2, số nền 34 và 35; diện tích 176m2 và nhà kho trên diện tích đất 176m2 (theo bản vẽ đo đạc thực tế là diện tích 176m2 của Văn phòng đăng ký Đất đai - Chi nhánh L3 lập ngày 02/3/2022) mục đích sử dụng đất thổ cư, đất tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Công nhận sự tự nguyện của bà Liềm H tự nguyện trả cho Công ty Đ 33.600.000 đồng theo hợp đồng góp vốn liên doanh ngày 22/4/2013 theo quy định và lãi xuất chậm thi hành án khi bản án có hiệu lực thi hành theo hợp đồng liên doanh mua 02 nên nhà của Công ty Đ với ông Trần Văn K và bà Liềm H ký ngày 22/8/2018 (trên đất có khung nhà kho đã tuyên giao cho bà Liềm H1).
  • + Công nhận sự tự nguyện của bà Liềm H tự nguyện trả cho ông Trần Văn K số tiền 50.000.000 đồng (nhà kho trị giá 100.000.000 đồng cất trên 02 nền nhà trên diện tích đất 176m2 theo bản vẽ thực tế ngày 02/3/2022 của Văn phòng Đ3 - Chi nhánh L3).
  • + Bà Liềm H1 được quyền yêu cầu Công ty Đ, yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với diện tích đất 176m2 và nhà kho trên diện tích đất 176m2 tại khu dân cư S, thuộc số lô N2, số nền 34 và số 35; mục đích sử dụng đất thổ cư, tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (theo bản vẽ thực tế điện tích là 176m2 do Văn phòng đăng ký Đất đai - Chi nhánh L3 lập ngày 02/3/2022) theo quy định pháp luật đất đai sau khi bà H1 hoàn thành nghĩa vụ tài chính cho ông Trần Văn K và Công ty Đ như bản án đã tuyên ở phần trên. Bà Liềm H1 phải chịu các nghĩa vụ tài chính khi thực hiện đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 176m2 theo quy định của Nhà nước.
  • - Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn K, bà Liềm H1 cùng xác định tài sản chung là vật liệu xây dựng và đồ trang trí nội thất tại cửa hàng K2 thuộc quyền sử dụng đất diện tích 110m2 tọa lạc tại số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang hiện nay do bà L1 Húng quản lý trị giá tài sản là 675.000.000 đồng.
  • + Công nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn K tự nguyện giao cho bà L1 Húng tiếp tục sở hữu vật liệu xây dựng và đồ trang trí nội thất tại cửa hàng K3 là 675.000.000 đồng, bà Liềm H1 hoàn lại giá trị tài sản chung cho ông Trần Văn K nhận ½ giá trị tiền vật liệu xây dựng số tiền 675.000.000 đồng, tương ứng số tiền 337.500.000 đồng từ bà Liềm Hl.
  • + Công nhận sự tự nguyện của bà Liềm H1 nhận và tiếp tục sở hữu các vật liệu xây dựng và đồ trang trí nội thất tại cửa hàng K3 là 675.000.000 đồng, bà Liềm H1 tự nguyện hoàn lại cho ông Trần Văn K1 nhận số tiền 337.500.000 đồng (tương ứng ½ số tiền 675.000.000 đồng trị giá vật liệu xây dựng đồ trang trí nội thất tại cửa hàng K2).”

[2.2] Tại biên bản hòa giải ngày 06/6/2023 giữa ông Trần Văn K và bà Liềm H thì chỉ thể hiện nội dung là các ý kiến, yêu cầu của các đương sự về các khoản nợ chung, tài sản chung,... mà không thể hiện nội dung đã được các đương sự thống nhất với nhau, Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận rõ những nội dung nào các đương sự thống nhất, nội dung nào không thống nhất trong biên bản hòa giải. Đến phiên tòa sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không hỏi rõ các đương sự để làm rõ nội dung nào các đương sự đã thống nhất nhất được với nhau nhưng tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm lại tuyên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và cho rằng bà H đồng ý với các ý kiến của ông K là chưa đảm bảo đúng ý kiến của bà H.

[2.3] Về nội dung kháng cáo của bà H yêu cầu chia ½ giá trị nhà đất của thửa đất 1.388,5m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK073368 do UBND huyện C cấp ngày 26/10/2017: Theo tờ sang hầm nuôi cá ngày 07/9/1982 ông N1 làm giấy sang lại diện tích đất hầm này không rõ diện tích cho bà Hà Thị S (mẹ ông K, ông P1, bà C), giấy tay sang nhượng đất có xác nhận Ủy ban nhân dân nơi có đất ngày 10/9/1982, còn theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do ông Trần Văn K viết ngày 22/6/2004 đất có diện tích 1.388,5m2 thuộc thửa số 13, tờ bản đồ số 61 thì có nguồn gốc là sang lại của ông Trần Đắc V1 năm 1980. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ diện tích đất mua của ông V1 và hầm cá mua của ông N1 có phải là một hay không hay là hai diện tích đất khác nhau. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ngày 28/02/2007 bà S ủy quyền cho ông K khiếu nại việc bồi thường khi thu hồi đất (bà S, ông B1 không ủy quyền cho ông K kê khai đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 1.388,5m2), ngày 22/6/2004 ông K, bà Liềm H1 có hành vi gian dối, ông K đứng đơn đăng ký kê khai diện tích đất 1.388,5m2, xét nhận định này là mâu thuẫn vì ông K kê khai từ năm 2004, trong khi đó đến năm 2007 bà S mới ủy quyền cho ông K đi khiếu nại. Hơn nữa, phía bà H1 cho rằng diện tích đất nêu trên là được cha mẹ chồng là ông B1, bà S cho hai vợ chồng, vì vậy ông K mới kê khai và giấy chứng nhận đứng tên hai vợ chồng. Đến năm 2017 thì hai vợ chồng xây dựng nhà và cập nhật tài sản trên đất nên được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK073368. Đồng thời UBND huyện C xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K, bà H1 là đúng trình tự, thủ tục, vấn đề này chưa được cấp sơ thẩm làm rõ.

[3] Căn nhà trên diện tích đất 1.388,5m2 theo giấy phép xây dựng ngày 03/8/2016 có diện tích 80,10m2, số tầng 01 tầng là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà H1 và ông K nên đây là tài sản chung của hai vợ chồng cần được giải quyết chung trong vụ án cùng với các tài sản khác.

[4] Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà S, giao cho bà S được sử dụng diện tích đất 1.388,5m2 nhưng có khấu trừ diện tích đất tích đất 295,5m2 trên đất này có căn nhà của bà C cất ở từ năm 1983, khấu trừ diện tích đất diện tích đất 263,2m2 trên đất này có căn nhà của ông P1 cất ở từ năm 1983 đến nay, việc chấp nhận yêu cầu

này là không đúng vì chính Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định ông B1, bà S có 08 con chung gồm (Nguyễn Thị H3, Trần Thị C, Trần Thị D, Trần Thị Lệ H4, Trần Tấn P1, Trần Văn K, Trần Thị N4, Trần Văn V2), ông B1 chết không để lại di chúc, tuy nhiên các thừa kế của ông B1, bà S không tranh chấp thừa kế trong vụ án này nhưng không đưa tất cả các con của ông B1, bà S vào tham gia tố tụng. Do đó việc giao đất cho bà C ông P1 như trên là không đúng vì sẽ ảnh hưởng đến quyền thừa kế của bà Thị H4, bà D, bà Lệ H4, ông K, bà N4, ông V2. Hơn nữa, bà S chỉ có quyền định đoạt đối với ½ diện tích đất 1.388,5m2 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm giao cho bà S tòa bộ diện tích này cũng là không đúng. Đồng thời, như đoạn trên đã nhận định trên đất này còn có căn nhà là tài sản chung của ông K, bà H1 nhưng cấp sơ thẩm giao đất cho bà S, bà C, ông P1 nhưng không giải quyết về căn nhà này là thiếu sót.

[5] Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa ghi nhận đúng ý kiến của các đương sự và đưa thiếu người tham gia tố tụng từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Thị H4, bà D, bà Lệ H4, bà N4, ông V2, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà H1, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

[7] Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà H1 không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ - ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân tỉnh An Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Liềm H không phải chịu 300.000 đồng. Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang hoàn trả bà H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000101 ngày 27/12/2023.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS Tỉnh An Giang;
  • - ĐS;
  • - Lưu VP(3), HS(2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu trả nợ chung; yêu cầu chia chi phí sửa nhà ở, chi phí khởi kiện.

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu trả nợ chung; yêu cầu chia chi phí sửa nhà ở, chi phí khởi kiện.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Liềm H1 kháng cáo bản án sơ thẩm của TAND tỉnh An Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger