|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/7/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lục Thị P, sinh năm 1996 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1993 (Có mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lục Thị P trình bày:
Tôi và anh Nguyễn Văn P1 kết hôn với nhau năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, các bên được tự do tìm hiểu nhau, không bị lừa dối ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên,vào ngày 07/4/2016. Thời gian đầu chúng tôi chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2022 tới nay, chúng tôi phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vã vì bất đồng quan điểm sống, cách sinh hoạt, không có tiếng nói chung. Anh P1 hay đánh bài, đi chơi qua đêm và tôi đã từng bị anh Nguyễn Văn P1 đánh, có lần anh P1 không cho hai mẹ con tôi vào nhà do vậy từ cuối tháng 4 năm 2023 tôi quyết định đưa con về nhà ông bà ngoại để sinh sống tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và chúng tôi ly thân từ đó đến nay. Tôi nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, quan điểm sống không đồng nhất, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn P1.
- Về con chung: Tôi và anh P1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc An s ngày 21/9/2016 hiện cháu đang ở với mẹ, tôi đề nghị Toà án cho tôi được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu cho đến khi cháu trưởng thành và yêu cầu anh Nguyễn Văn P1 là bố đẻ của cháu chu cấp mỗi tháng 2.000.000 đồng
- Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung nên tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn P1 trình bày: Về việc đăng ký kết hôn, thời gian và quá trình chung sống với chị P như chị P đã trình bày là đúng. Quá trình chung sống, ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng từ năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, sau nhiều lần cãi vã và có xô sát tình cảm vợ chồng phai nhạt, tính cách chúng tôi không hợp nhau, chúng tôi đã nhiều lần nói chuyện nhưng tình cảm không thể hàn gắn. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay chị P xác định không còn tình cảm với tôi thì tôi cũng đồng ý ly hôn với chị Lục Thị P.
- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc An s sinh ngày 21/9/2016. Từ cuối tháng 4/2023 chị P2 đã mang con về sống cùng ông bà ngoại tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tôi cũng có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị P cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung nên tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị P xác định mâu thuẫn giữa chị với anh Nguyễn Văn P1 đã ngày càng trầm trọng, chị xác định không còn tình cảm với anh P1 nên tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh P1. Về con chung, chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc A đến khi con trưởng thành. Về vấn đề cấp dưỡng, chị yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con hàng tháng số tiền là 2.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024.
Anh P1 đồng ý ly hôn với chị P nhưng về con chung, anh không đồng ý để chị P nuôi dưỡng. Anh xác định anh có đủ điều kiện để nuôi con nên đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Phúc A cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp, xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Văn P1 có địa chỉ tại tổ dân phố V, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết của vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị P và anh Nguyễn Văn P1 tự nguyện kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 07/4/2016 nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P, HĐXX thấy rằng: Quá trình vợ chồng chị P, anh P1 chung sống với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị P là do anh P1 hay đánh bài, đi chơi qua đêm, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã vì bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đã có lần chị bị anh P1 đánh. Anh P1 xác định vợ chồng anh không có tiếng nói chung trong cuộc sống, sau nhiều lần cãi vã và có xô xát, tình cảm vợ chồng phai nhạt, tính cách chúng tôi không hợp nhau, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện nhưng tình cảm không thể hàn gắn. Chị P và anh P1 xác định đã sống ly thân với nhau từ tháng 4/2023 đến nay. Nay chị P xác định không còn tình cảm với anh P1, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn. Anh P1 cũng đồng ý ly hôn với chị P.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau ....... 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau ......”. Tuy nhiên, từ tháng 4/2023 chị P và anh P1 đã không còn chung sống cùng nhau. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị P và anh P1 không đồng ý đoàn tụ, kiên quyết xin ly hôn. Điều này cho thấy tình cảm của chị P và anh P1 dành cho nhau đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị P được ly hôn với anh P1.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng chị Lục Thị P và anh Nguyễn Văn P1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc An s ngày 21/9/2016. Chị P hiện đang làm công nhân, thu nhập hàng tháng được khoảng từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, đề nghị được nuôi dưỡng cháu A và yêu cầu anh P1 hàng tháng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Bản thân anh P1 hiện đang làm nhân viên tại Bệnh viện Đ, thu nhập hàng tháng được khoảng từ 10.000.000 đồng đến 11.000.000 đồng. Anh P1 cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con."
HĐXX thấy rằng, cả chị P và anh P1 đều có công việc ổn định, có thu nhập hàng tháng, đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên, cháu A còn nhỏ tuổi, việc giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sẽ đảm bảo hơn cho việc phát triển của cháu về thể chất cũng như về tâm lý. Thực tế, từ tháng 4/2023 đến nay, cháu A cũng đang sống ổn định cùng với mẹ tại nhà ông bà ngoại ở xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và đang theo học tại Trường tiểu học T. Theo xác nhận của nhà trường thì chị P là người đóng học phí và các khoản thu nộp của nhà trường cho cháu A. Do vậy, việc giao cháu A cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng cũng sẽ đảm bảo cho việc học tập của cháu A được ổn định. Ngoài ra, xem xét nguyện vọng của cháu Nguyễn Phúc A (là con chung trên 7 tuổi) cũng muốn được ở với mẹ.
Từ những nhận định trên, xét thấy, để đảm bảo quyền lợi và điều kiện tốt nhất cho con chung của chị P và anh P1, cũng như xem xét nguyện vọng của con chung trên 7 tuổi, cần chấp nhận đề nghị của chị P, giao cháu Nguyễn Phúc An s ngày 21/9/2016 cho chị Lục Thị P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh P1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.
Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Xét thấy, chị P là người trực tiếp nuôi con nên anh Nguyễn Văn P1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A. Căn cứ vào điều kiện công việc, thu nhập, khả năng thực tế của anh Nguyễn Văn P1 hiện nay, HĐXX thấy rằng, mức cấp dưỡng nuôi cháu A với số tiền 2.000.000 đồng/tháng (thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024) như chị P yêu cầu là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Lục Thị P và anh Nguyễn Văn P1 đều xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Chị Lục Thị P và anh Nguyễn Văn P1 đều xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Anh P1 phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lục Thị P:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lục Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn P1;
- - Về con chung: Giao Nguyễn Phúc A, sinh ngày 21/9/2016 cho chị Lục Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn P1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn P1 có trách nhiệm hàng tháng cấp dưỡng nuôi cháu A số tiền 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng/tháng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024.
- - Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết;
- - Về nợ chung: Không xem xét giải quyết;
2. Về án phí: Chị Lục Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001590 ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Anh P1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Minh Quang |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
