Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2024/DS-ST

Ngày: 15/07/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dân

sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Huế
  2. Ông Hoàng Xuân Tỵ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 15 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1978

    Địa chỉ: Số A đường H, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Đức Thiên P, sinh năm 2000;

    Địa chỉ: Số A đường L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T trình bàyUyền Huy:

Vào ngày 25/07/2022, do có quan hệ quen biết, ông cho bà Nguyễn Đức Thiên P, cư trú tại: 178 đường L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng vay số tiền 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng). Mục đích vay để đáo hạn ngân hàng. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 2.000đ/1 triệu /1 ngày, thời hạn vay là 2-3 ngày, việc thỏa thuận lãi thì hai bên chỉ nói miệng với nhau chứ không ghi vào giấy tờ vay tiền. Để đảm bảo cho khoản vay thì bà P có giao cho ông 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K và bà Ka H, đã được đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Đức Thiên P để làm tin. Đến hạn trả nợ, ông có liên lạc đòi thì bà P không trả được nợ cho ông, ông chưa nhận được bất cứ khoản tiền gốc và lãi nào từ bà Nguyễn Đức Thiên P. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Đức Thiên P trả số tiền vay gốc là 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật với mức lãi suất 0.83%/tháng kể từ ngày vay 25/07/2022 tạm tính đến ngày xét xử là 700.000.000₫ x0.83%/tháng x 23 tháng 20 = 137.503.000đ (Một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng).

Ông đồng ý trả cho bà Nguyễn Đức Thiên P 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K và bà Ka H, đã được đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Đức Thiên P.

Bị đơn bà Nguyễn Đức Thiên P trình bày: Vào ngày 25/7/2022 do cần tiền đáo hạn ngân hàng nên bà có vay ông Nguyễn Đăng T số tiền 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng), khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay khoảng 3 ngày kể từ ngày vay. Để đảm bảo cho khoản vay thì bà có đưa cho ông T 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K' Nổi, bà Ka H và đã được đăng ký biến động sang tên Nguyễn Đức Thiên P để làm tin.

Tuy nhiên, do khoản vay của bà chưa đến thời gian đáo hạn nên bà đã cầm số tiền 700.000.000₫ lên trả trực tiếp cho ông T, và đã trả lãi cho ông T với số tiền 7.000.000₫ nhưng do giao tiền bằng tiền mặt và giao trực tiếp cho ông Nguyễn Đăng T nên không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh, cũng không có ai là người làm chứng.

Dù đã trả tiền nhưng do chủ quan nên bà không lấy giấy nợ gốc về, đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà đưa cho ông T để làm tin thì do thời điểm đó mẹ ruột bà có ý định tiếp tục vay tiền ông T nên nhờ bà để lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để mẹ bà tiếp tục vay mượn tiền của ông T.

Nay bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T. Yêu cầu ông T trả lại cho bà bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K' Nổi, bà Ka H và đã được đăng ký biến động sang tên Nguyễn Đức Thiên P.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên ý kiến không có thay đổi gì khác.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn bà Nguyễn Đức Thiên P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T số tiền vay gốc là 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày xét xử là 700.000.000đđ x 0.83%/tháng x 23 tháng 20 ngày = 137.503.000đ (Một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là 837.503.000đ (T1 trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng). Buộc ông Nguyễn Đăng T có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Đức Thiên P 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K' Nổi, bà Ka H và đã được đăng ký biến động sang tên Nguyễn Đức Thiên P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Đăng T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Nguyễn Đức Thiên P; cư trú tại: Số A đường L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  3. Về nội dung tranh chấp:
    1. Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng), đồng thời xuất trình 01 bản chính giấy vay tiền để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Bị đơn thừa nhận giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp là chữ ký, chữ viết và điểm chỉ của bị đơn; mặc dù bị đơn trình bày đã trả tiền gốc cho nguyên đơn ngay sau ngày vay tiền nhưng nguyên đơn không thừa nhận, bị đơn không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh, không có ai là người làm chứng nên không có cơ sở xem xét lời trình bày của bị đơn. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị đơn là người vay tiền nguyên đơn với số tiền 700.000.000đ tiền gốc và chưa thanh toán, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền vay gốc 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng) là có căn cứ nên cần chấp nhận.
    2. Về tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu áp bị đơn trả tiền lãi vay kể từ ngày vay đến ngày xét xử cụ thể: 700.000.000đ x 0.83%/tháng x 23 tháng 20 ngày = 137.503.000₫ (Một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng). Thấy rằng, trong tài liệu chứng cứ nguyên đơn xuất trình không ghi lãi suất giữa các bên thỏa thuận là bao nhiêu tuy nhiên cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận có thỏa thuận lãi suất bằng miệng tuy nhiên không thống nhất về mức lãi suất; do đó, nay nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi suất 0.83%/tháng đối với khoản vay trên là đúng qui định của pháp luật. Bị đơn trình bày đã trả cho nguyên đơn số tiền lãi 7.000.000đ cho 02 ngày vay nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh, nguyên đơn không thừa nhận nên không có cơ sở xem xét lời trình bày của bị đơn. Do vậy, căn cứ quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự xác định yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là phù hợp với qui định của pháp luật, buộc bị đơn bà Nguyễn Đức Thiên P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T số tiền lãi tính đến ngày 15/07/2024 là 700.000.000đ₫ x 0.83%/tháng x 23 tháng 20 ngày = 137.503.000đ (Một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng).
    3. Đối với 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K' Nổi, bà Ka H1 và đã được đăng ký biến động sang tên Nguyễn Đức Thiên P; giấy này bị đơn đưa cho nguyên đơn để làm tin nay yêu cầu nguyên đơn trả lại nên buộc bà nguyên đơn trả cho bị đơn bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là phù hợp.
  4. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  5. Từ những phân tích trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T về việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” với bị đơn bà Nguyễn Đức Thiên P.
  6. Về án phí: Yêu cầu của ông T được chấp nhận do đó ông T không phải chịu án phí DSST. Bà Nguyễn Đức Thiên P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 147, điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự
  • Áp dụng Điều 463, 466, 468, 357 Bộ luật dân sự 2015;
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T đối với bị đơn bà Nguyễn Đức Thiên P.

    Buộc bà Nguyễn Đức Thiên P có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền vay gốc là 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi tính đến ngày xét xử là 700.000.000₫ x 0.83%/tháng x 23 tháng 20 ngày = 137.503.000đ (Một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là 837.503.000đ (T1 trăm ba mươi bảy triệu năm trăm lẻ ba ngàn đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo ngày tòa án ban hành bản án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

    Buộc ông Nguyễn Đăng T có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Đức Thiên P 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 221850 do UBND huyện D cấp ngày 31/08/2018 cho ông K' Nổi, bà Ka H và đã được đăng ký biến động sang tên Nguyễn Đức Thiên P.

  2. Về án phí:

    Hoàn trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền tạm ứng án phí là 18.156.000đ (mười tám triệu một trăm năm mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006140 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.

    Nguyễn Đức Thiên P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 37.125.090đ (Ba mươi bảy triệu một trăm hai mươi lăm ngàn không trăm chín mươi đồng).

  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • + Các đương sự;
  • + VKSND TP. Bảo Lộc;
  • + T.H.A Bảo Lộc;
  • + TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • + Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng T - Nguyễn Đức Thiên P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger