Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-5-2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy

Ông Đặng Bắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang– Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Phố A 45/EG/căn hộ số C, số bưu điện D, thành phố L, Cộng hòa Á; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1986;

Hộ khẩu thường trú: Tổ G, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Trần Quốc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị T1 kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến cuối năm 2019, anh quay lại Áo sinh sống và làm việc, còn chị T1 vẫn ở Việt Nam. Do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không thường xuyên gặp nhau nên tình cảm cũng dần phai nhạt. Đến khoảng năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng với nhau về quan điểm sống, khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ khi anh T sang Áo đến nay. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị T1.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn chị Phạm Thị T1 xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc T kết hôn năm 2019 hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không còn tình cảm và xa cách nhau. Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị, chị nhất trí ly hôn.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc T, cho anh T được ly hôn chị Phạm Thị T1. Về con chung: Không có. Về Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết. Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Quốc T là nguyên đơn có địa chỉ tại: Phố A hộ số C, số bưu điện D, thành phố L, Cộng hòa Á. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của anh T đều có chứng thực của Đại sứ quán C tại Cộng hòa Áo. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của anh Trần Quốc T nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của anh T. Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1986 là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Tổ G, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình giải quyết chị T1 đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Anh T và chị T1 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2].Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Trần Quốc T và chị Phạm Thị T1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, theo anh T trình bày: Do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng với nhau về quan điểm sống, phong cách khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ khi anh T sang Áo đến nay. Nay anh T và chị T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Anh T xin được ly hôn với chị T1. Chị T1 nhất trí ly hôn. Thấy rằng, anh T và chị T1 đã sống ly thân, mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Quốc T, cho anh T được ly hôn với chị T1 là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[2.2]. Về con chung: Không có

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị T1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

[2.4]. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ, cần chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 39; Điều 147; Điều 207; Điều 273; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Quốc T đối với chị Phạm Thị T1.

  1. Về hôn nhân: Cho anh Trần Quốc T được ly hôn chị Phạm Thị T1.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Án phí: Anh Trần Quốc T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, theo biên lai số 0000162 ngày 12/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Anh Trần Quốc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Chị Phạm Thị T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - UBND thành phố T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(ĐÃ KÝ)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN QUỐC T VÀ PHAM THỊ T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger