Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DS - ST

Ngày 15/5/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và hủy quyết định cá biệt

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồ Cảnh.

Ông Dương Thanh Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10/5/2024 và 15/5/2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 18/2023/TLST-DS ngày 02/03/2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST- DS ngày 25/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá H. Sinh năm 1944. Địa chỉ: xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị V. Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị T. Luật sư. Văn phòng luật sư Tâm Trí T1, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.

- Bị đơn:

+ Anh Nguyễn Bá V1, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử; vắng mặt khi tuyên án.

+ Chị Nguyễn Thị H1; sinh năm: 1990; Địa chỉ: xóm D, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện tại của chị H1: Công ty TNHH N4. Địa chỉ: G, G, Y (Nhật Bản). Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị H1: Anh Nguyễn Xuân N. Sinh năm 1987. Địa chỉ: xóm D, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử; vắng mặt khi tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Bá N1, sinh năm 1972. Địa chỉ: xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977. Địa chỉ: xóm D, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Bá P, sinh năm 1983. Địa chỉ: xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm B, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1991. Địa chỉ: xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Tâm S, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1968. Địa chỉ: xóm F, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

- Ông Phan Đình N2. Sinh năm 1975; bà Đậu Thị L. Sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy uyền của ông Trần C. xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Ủy ban nhân dân huyện Y. Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn D – Phó Chủ tịch UBND huyện. Vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Bá H khởi kiện có nội dung như sau: Năm 1999, vợ chồng ông Nguyễn Bá H, bà Trần Thị H3 (đã chết năm 2017) có mua của ông Nguyễn Tâm S và bà Nguyễn Thị B 01 thửa đất gắn liền với nhà 03 gian trên đất tại xóm F, xã L, huyện Y. Thửa đất đã được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số E 994206 ngày 12/4/1995, tại thửa đất số 574, TBĐ không ghi số, diện tích 926 m2, nay là thửa số 1360, TBĐ số 11, diện tích 681 m2. Khi mua chưa làm thủ tục sang tên đối với thửa đất, nhưng ông Nguyễn Tâm S đưa bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà H3 giữ, lúc nào có nhu cầu làm thủ tục sang tên thì ông S ký giấy tờ làm thủ tục. Sau khi mua thửa đất trên, vợ chồng ông H khoá cửa ngôi nhà và cổng vào thửa đất lại, chỉ lên đó trồng rau, làm vườn, chứ không ở trên thửa đất.

Năm 2010, con trai là Nguyễn Bá P lập gia đình, thì ông H, bà H3 cho anh P xuống ở trên ngôi nhà và thửa đất đó. Chỉ cho vợ chồng anh P mượn để ở, chứ không cho hẳn. Đến năm 2012, thì anh P làm nhà nơi khác, mảnh đất không ai ở.

Tháng 9/2016, vợ chồng con trai thứ 3 là Nguyễn Bá V1 và Nguyễn Thị H1 lên ở trên thửa đất, lúc này ông cũng chỉ cho anh V1 và chị H1 mượn đất và nhà để ở chứ không cho. Khoảng đầu năm 2017, anh V1 có lên gặp ông H, mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất, nói để mượn về vay vốn đi buôn. Ông H đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh V1 mượn. Đến tháng 11 năm 2017 thì vợ chồng anh V1, chị H1 ly hôn.

Vừa qua, ông H lên gặp vợ chồng ông S để nhờ ký giấy tờ sang tên thửa đất cho ông H thì được ông S cho biết năm 2017, vợ chồng ông đã ký giấy tờ sang tên cho vợ chồng anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1, do ông S nghĩ ông H đã cho anh V1 và chị H1 thửa đất này (vì lúc này anh V1 và chị H1 đang ở trên thửa đất) nên vợ chồng ông S đã ký giấy tờ cho anh V1 mà chủ quan không hỏi lại ông H.

Ông H nói chuyện với anh V1 yêu cầu anh V1 và chị H1 ký lại giấy tờ, trả lại thửa đất trên cho tôi thì anh V1 và chị H1 không đồng ý. Nguồn gốc của thửa đất tranh chấp là do vợ chồng ông H nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Tâm S và bà Nguyễn Thị B năm 1999. Năm 2017, bà H3 chết, không để lại di chúc. Thửa đất trên trở thành tài sản chung của ông H và các con trong gia đình. Năm 2017, vợ chồng anh V1, chị H1 tự ý làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa được sự đồng ý của ông H và các anh chị em trong gia đình là vi phạm pháp luật.

Tranh chấp giữa ông H và với anh V1, chị H1 đã được UBND xã L chức hoà giải 02 lần nhưng cả hai lần anh V1 và chị H1 đều vắng mặt.

Ông H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An: Tuyên huỷ GCNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên ông Nguyễn Bá V1 và bà Nguyễn Thị H1; Buộc ông Nguyễn Bá V1 và bà Lê Thị H4 trả lại thửa đất số 1360, TBĐ số 11, tại xóm F, xã L, huyện Y và tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên cho ông H và các đồng thừa kế của bà Trần Thị H3.

Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông H trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đồng thời xác định, sau khi làm GCNQSD đất đối với toàn bộ thửa đất, anh V1, chị H4 đã chuyển nhượng một phần thửa đất cho anh Lê Bá C1 và chị Nguyễn Thị H1, anh C1, chị H1 đã được cấp GCNQSD đất, đã chuyển nhượng cho nhiều người khác. Ông H không yêu cầu đòi lại phần diện tích anh V1, chị H1 đã chuyển nhượng (là thửa 1630, tờ bản đồ số 11), chỉ yêu cầu đòi lại phần diện tích đất chưa chuyển nhượng, hiện đang được cấp GCNQSD đất số CH 993958 ngày 18/4/2017 cho anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1, tại thửa 1631, tờ bản đồ số 11, diện tích 474 m2.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan cùng phía với ông H, gồm có: anh Nguyễn Bá N1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Bá P, chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Bá Đ1 (là các con của ông H, bà H3) thống nhất với nội dung trình bày của ông H và nội dung, yêu cầu khởi kiện. Đồng thời không yêu cầu trả lại phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho anh Lê Bá C1 và chị Nguyễn Thị H1.

Bị đơn anh Nguyễn Bá V1 trình bày: Thửa đất nêu trên là có nguồn gốc là của bố mẹ anh mua của ông T2, bà S. Năm 2016, sau khi anh V1 lập gia đình với chị Nguyễn Thị H1 thì được cha mẹ cho mượn thửa đất trên để ở. Năm 2017, do có nhu cầu vay vốn ngân hàng nên vợ chồng đã đến gặp ông H mượn GCNQSD đất để làm thủ tục sang tên để vay vốn. Anh V1 đã gặp ông S, bà B làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất từ ông S, bà B sang tên vợ chồng anh V1, chị H1 mà không nói cho ông H biết. Sau khi vay tiền về có xây hàng rào xung quanh và chuồng trại chăn nuôi trên thửa đất. Một phần thửa đất đã được chuyển nhượng cho anh Lê Bá C1, chị Nguyễn Thị H1. Cuối năm 2017, vợ chồng ly hôn. Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, đồng thời đề nghị không xem xét đến phần đất đã chuyển nhượng cho anh C1, chị H1.

Đối với chị Nguyễn Thị H1: Kết quả xác minh, hiện nay chị H1 đang làm việc, sinh sống tại Nhật Bản. Tòa án đã thực hiện các thủ tục tương trợ tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị H1. Chị H1 có gửi đơn trình bày cho Tòa án, nhưng đơn không có thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định. Tuy nhiên, chị H1 có ủy quyền hợp pháp, có xác nhận của Đ2 tại Nhật Bản cho anh Nguyễn Xuân N là anh trai chị H1. Anh Nguyễn Xuân N xác định chữ viết, chữ ký tại đơn trình bày là của chị H1, đồng thời nội dung anh trình bày cũng giống như nội dung tại đơn trình bày chị H1 đã gửi, cụ thể như sau: anh V1, chị H1 kết hôn năm 2013, năm 2015 chị H1 về quê sinh con, lúc đó ông H, bà H3 có tặng cho vợ chồng thửa đất mua của ông S, bà B. Ông H, bà H3 đồng ý và để vợ chồng làm thủ tục cấp GCNQSD đất. Khi còn sống, bà H3 đã xác định cho anh V1 thửa đất. Sau khi làm được GCNQSD đất thì vợ chồng đã thế chấp vay vốn quỹ tín dụng số tiền 50.000.000 đồng để xây hàng rào và chuồng trại. Nhưng thực tế anh V1 sử dụng tiền để tiêu xài, cờ bạc nhiều. Năm 2017, hai vợ chồng ly hôn, nhưng tài sản vợ chồng chưa chia. Năm 2018, anh V1, chị H1 thống nhất tách một phần để chuyển nhượng cho anh Lê Bá C1 và chị Nguyễn Thị H1. Ông H cho rằng, anh V1, chị H1 tự ý đi làm thủ tục cấp GCNQSD đất là không đúng, vì nếu không được sự đồng ý thì không thể tự đi làm được.

Tại phiên tòa, anh N không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá H. Anh N đồng ý với nội dung không xem xét đối với phần đất vợ chồng ông V1, bà H1 đã chuyển nhượng cho anh C1 chị H1. Anh N nêu ý kiến, nếu ông H đồng ý trả cho em gái ông là bà Nguyễn Thị H1 số tiền 200.000.000 thì vụ kiện chấm dứt.

Ông Nguyễn Tâm S, bà Nguyễn Thị B1 trình bày: xác nhận việc chuyển nhượng thửa đất cho ông H bà H3 năm 1999 với giá 12.000.000 đồng; đã đưa Giấy CNQSD đất được cấp năm 1995 cho ông H. Năm 2017, anh V1 có lên nhờ vợ chồng ông S, bà B ký hồ sơ chuyển nhượng cho anh V1, do chủ quan và thấy vợ chồng anh V1 đang ở trên thửa đất nên vợ chồng ông đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng anh V1 mà không hỏi ý kiến ông H.

Đại diện của ông Đậu Văn N3, bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Thửa đất vợ chồng ông N3, bà L1 nhận chuyển nhượng có thủ tục hợp pháp, các bên hoàn toàn không biết sai sót trong việc làm thủ tục chuyển nhượng giữa ông Tâm S, bà B với vợ chồng ông V1, bà H1. Ông N3, bà L1 nhận chuyển nhượng là ngay tình; đồng thời các đương sự trong vụ án đến thời điểm hiện tại vẫn đồng ý và công nhận hợp đồng chuyển nhượng đối với phần đất ông V1, bà H1 chuyển nhượng cho ông C1, bà H1, không yêu cầu giải quyết đòi lại phần diện tích đất đã chuyển nhượng. Vì vậy, đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng này, giữ nguyên GCNQSD đất đã cấp cho ông N3, bà L1.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện Y: Theo báo cáo của UBND xã L tại Báo cáo số 29/BC-UBND, ngày 13/4/2023 thì các thửa đất số 574; tờ bản đồ thổ cư - xã L, có nguồn gốc sử dụng là của ông Nguyễn Bá H5 ở từ năm 1992, sau khi ông H5 chuyển đi nơi khác để lại cho ông Nguyễn Văn S1 (tức Nguyễn Tâm S), sử dụng ổn định từ trước cho đến năm 2022, được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất ngày 12/4/1995, mang số phát hành E 994206, diện tích 962 m2 đất thổ cư, sử dụng ổn định từ đó cho đến ngày 09/02/2017, ông Nguyễn Tâm S vợ là bà Nguyễn Thị B, tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho hộ ông Nguyễn Bá V1 vợ là bà Nguyễn Thị H1, được UBND huyện cấp GCNQSD đất cho gia đình ông V1 ngày 18/4/2017, số phát hành CH993958, tại thửa đất số 1360, tờ bản đồ số 11 – xã L, diện tích 681m2. Đến năm 2018, ông Nguyễn Bá V1 và vợ là bà Nguyễn Thị H1 tách một phần thửa đất, diện tích 207 m2 và chuyển nhượng cho hộ ông Lê Bá C1 và vợ là bà Nguyễn Thị H1, được UBND huyện cấp GCNQSD đất ngày 08/11/2018, diện tích 207 m2; Đến ngày 03/12/2018, hộ ông C1 chuyển nhượng cho hộ ông Lê Bá D1 và vợ là Nguyễn Thị L2 và được đính chính trên GCNQSD của ông Lê Bá C1 ngày 07/12/2018, đến năm 2020 hộ ông Lê Bá D1 chuyển nhượng cho hộ ông Phan Anh T3 vợ là bà Vũ Thị T4 và được đính chính trên GCNQSD đất của ông C1 ngày 29/5/2020; đến năm 2021 hộ ông Phan Anh T3, chuyển nhượng cho hộ gia đình ông Phan Đình N2 và vợ là bà Đậu Thị L. Từ khi thực hiện chuyển nhượng QSD đất cho đến ngày 14/4/2022 trên địa bàn không có ai khiếu nại hay phản ánh gì. Đến ngày 15/02/2022, UBND xã nhận được đơn phản ánh của ông Nguyễn Bá H, phản ánh việc năm 1999, gia đình ông H mua thửa đất của ông Nguyễn Tâm S và bà Nguyễn Thị B, với số tiền là 12.000.000 đồng, chỉ có giấy thỏa thuận do ông Nguyễn Tâm S, viết đề ngày 27/10/1999, không có cơ quan chính quyền nào xác nhận. Như vậy việc UBND xã lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSD đất lần đầu của gia đình ông Nguyễn Tâm S và hồ sơ cấp giấy CNQSD đất của ông Nguyễn Bá V1 là phù hợp với Pháp luật tại thời điểm cấp giấy CNQSD đất.

UBND huyện Y xác định, việc lập hồ sơ và cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Bá V1 và bà Nguyễn Thị H1 ngày 18/4/2017 là đúng quy định pháp luật. Đề nghị giữ nguyên GCNQSD đất đã cấp.

Tài liệu Tòa án thu thập được:

  • Hồ sơ cấp GCNQSD đất số E 994206 ngày 12/4/1995 cho ông Nguyễn Tâm S;
  • Hồ sơ cấp GCNQSD đất số CH 993958 ngày 18/4/2017, tại thửa số 1360, tờ bản đồ số 11, diện tích 681 m2 cho ông Nguyễn Bá V1 và bà Nguyễn Thị H1;
  • GCNQSD đất số CH 993958 ngày 18/4/2017, tại thửa số 1360, tờ bản đồ số 11, diện tích 681 m2 cho ông Nguyễn Bá V1 và bà Nguyễn Thị H1 được thay đổi và chỉnh lý: Ngày 17/9/2018 thửa đất đã được tách thửa thành 02 thửa: thửa số 1630 (tách từ thửa 1360), tờ bản đồ số 11, diệc tích 207 m2; thửa số 1631, tờ bản đồ số 11, diệc tích 474 m2; ngày 19/7/2018, thửa số 1630 tờ bản đồ số 11, diệc tích 207 m2 được chuyển quyền sử dụng cho ông Lê Bá C1, bà Nguyễn Thị H1.
  • Hồ sơ cấp GCNQSD đất số CH 552353 ngày 08/11/2018, tại thửa số 1630, tờ bản đồ số 11, diện tích 207 m2 cho ông Lê Bá C1 và bà Nguyễn Thị H1 (được tách từ thửa tại thửa số 1360, tờ bản đồ số 11, diện tích 681 m2 cấp cho ông Nguyễn Bá V1 và bà Nguyễn Thị H1);
  • Hồ sơ cấp GCNQSD đất số CH 993958 ngày 18/4/2021, tại thửa số 1630, tờ bản đồ số 11, diện tích 207 m2 cho ông Lê Bá D1 và bà Nguyễn Thị L2 (đính chính tại GCNQSD đất ngày 07/12/2018);
  • Hồ sơ cấp GCNQSD đất số CH 993958 ngày 18/4/2021, tại thửa số 1630, tờ bản đồ số 11, diện tích 207 m2 cho ông Phan Anh T3 và bà Nguyễn Thị T5 (đính chính tại GCNQSD đất ngày 29/5/2020);
  • Hồ sơ cấp GCNQSD đất số CH 9DA 434051 ngày 05/4/2021, tại thửa số 1630, tờ bản đồ số 11, diện tích 207 m2 cho ông Phan Đình N2 và bà Đậu Thị L
  • Tài liệu thẩm định, định giá tài sản.

Tại phiên tòa, các bên không thống nhất được việc giải quyết tranh chấp về đất. Đối với tài sản trên đất, quá trình sinh sống trên thửa đất, vợ chồng anh V1, chị H1 có xây hàng rào và chuồng trại. Theo kết quả định giá, giá trị hiện tại là 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các đương sự đồng ý với kết quả định giá. Ông H đồng ý thanh toán cho anh V1, chị H1 10.000.000 đồng; anh V1 đồng ý chuyển toàn bộ số tiền này cho chị H1, anh N đồng ý nhận. Phần hàng rào hiện nay được xây bao quanh thửa 1360 (cũ) nay một phần nằm trên thửa 1630, một phần nằm trên thửa 1631, ông H đề nghị giữ nguyên hàng rào, không yêu cầu thanh toán. Về các chi phí tố tụng đã thực hiện, ông H đồng ý chịu, không yêu cầu các đương sự khác phải chịu; án phí dân sự sơ thẩm anh V1 thỏa thuận chịu.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: TAND tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là phù hợp với yêu cầu của đương sự, tại thời điểm thụ lý vụ án có đương sự đang ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Đối với bản trình bày ý kiến của chị H1 không có chứng thực của Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tại Nhật Bản cũng như tài liệu chứng cứ kèm theo để chứng minh cho lời khai của mình.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về: Hủy giấy CNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1631, TBĐ số 11, diện tích 474 m2 tại xóm F, xã L, huyện Y; Buộc anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 trả lại thửa đất số 1631, TBĐ số 11, diện tích 474 m2 tại xóm F, xã L, huyện Y cho nguyên đơn và các đồng thừa kế của bà Trần Thị H3 gồm ông Nguyễn Bá H, anh Nguyễn Bá N1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Bá P, chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Bá Đ, anh Nguyễn Bá V1; Công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc ông H giao cho chị H1 số tiền 10 triệu đồng trị giá tài sản trên đất. Ông H được quyền sử dụng, sở hữu các tài sản gồm 67,93 m bờ tường bao xây bằng gạch taplo; 01 chuồng chăn nuôi. Về chi phí thẩm định, định giá, ông H thống nhất nộp nên đề nghị chấp nhận. Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và ý kiến của các đương sự, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Thẩm quyền thụ lý, giải quyết và quan hệ tranh chấp.

Ông Nguyễn Bá H khởi kiện yêu cầu tuyên huỷ GCNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 cho anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1; Buộc anh Nguyễn Bá V1 và chị Lê Thị H4 trả lại thửa đất số 1360, TBĐ số 11, tại xóm F, xã L, huyện Y và tài sản gắn liền với thửa đất cho ông H và các đồng thừa kế của bà Trần Thị H3. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34 và Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử xác định là "Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". Thửa đất tranh chấp thuộc xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại thửa đất số 1360, TBĐ số 11, tại xóm F, xã L, huyện Y và tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên cho nguyên đơn và các đồng thừa kế của bà Trần Thị H3.

[2.1.1] Nguồn thửa đất tranh chấp:

Căn cứ ý kiến của UBND huyện Y, ý kiến của ông H, anh V1, người đại diện theo ủy quyền của chị H4, ông S, bà B và các con của ông H, bà Trần Thị H3 đều thừa nhận thửa đất số 574, TBĐ không ghi số, diện tích 926 m2 nay là thửa số 1360, TBĐ số 11, diện tích 681m2 và ngôi nhà 03 gian gắn liền với đất có địa chỉ tại xóm F, xã L thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Tâm S và bà Nguyễn Thị B đã được UBND huyện Y cấp giấy CNQSD đất mang tên ông S, bà B ngày 12/4/1995.

Theo trình bày của ông H và những người liên quan cùng phía, anh Nguyễn Bá V1, ông S, bà B, năm 1999 ông S bà B đã chuyển nhượng cho ông H, bà H3 với giá 12.000.000 đồng. Sau khi thống nhất chuyển nhượng thì ông H, bà H3 đã thanh toán đủ tiền và ông S, bà B đã giao đất, giao giấy CNQSD đất cho ông H, bà H3, nhưng chưa làm thủ tục đăng ký biến động theo quy định. Tại bản trình bày của chị H4 được người đại diện xác định chữ viết, chữ ký và nội dung trình bày trong đơn xác định thửa đất đã được ông S, bà B chuyển nhượng cho ông H, bà H3 trước thời điểm anh V1, chị H4 kết hôn.

Như vậy, có căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất trước khi chuyển nhượng cho ông H, bà H3 (theo xác nhận của ông H và những người liên quan cùng phía và anh Nguyễn Bá V1, ông S, bà B và hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/02/2017 cho anh H4, chị V1) là của ông Nguyễn Tâm S, bà Nguyễn Thị B.

[2.1.2]. Quá trình sử dụng đất.

Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất ông H chỉ trồng rau, làm vườn chứ không ở trên đất. Năm 2010, ông H cho vợ chồng con trai là Nguyễn Bá P mượn ngôi nhà trên thửa đất để ở, đến năm 2012 thì ông P trả lại cho ông H. Năm 2016, vợ chồng anh V1, chị H4 ở M về không có chỗ ở nên ông H đã cho vợ chồng mượn ngôi nhà trên thửa đất để ở. Ngày 18/7/2017, thửa đất được UBND huyện Y cấp giấy CNQSD đất mang tên anh V1, chị H4. Sau đó do mâu thuẫn vợ chồng nên chị H4 về nhà mẹ đẻ, anh V1 đi sống ở nơi khác. Hiện nay thửa đất 1361, diện tích 474 m2 cấp giấy CNQSD đất mang tên ông V1, bà H4 đang do ông Nguyễn Bá H quản lý.

[2.1.3] Về việc chuyển nhượng thửa đất.

Ông H và những người liên quan cùng phía, anh Nguyễn Bá V1, ông S, bà B đều xác định thửa đất đã được chuyển nhượng cho ông H bà H3 từ năm 1999, chị H4 cũng xác định về việc ông H, bà H3 mua thửa đất từ trước khi anh V1, chị H4 kết hôn. Như vậy, tuy các bên chưa làm thủ tục đăng ký biến động theo quy định, nhưng các bên đều thừa nhận việc chuyển nhượng và đã thực hiện xong nghĩa vụ, không có tranh chấp nên thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông H, bà H3, đây là tài sản chung của ông H, bà H3 việc chuyển nhượng thửa đất phải được sự đồng ý của ông H, bà H3 (khi còn sống).

Chị H4 trình bày, việc chuyển nhượng thửa đất giữa ông S và bà B cho vợ chồng anh V1, chị H4 đã được sự đồng ý của gia đình nhưng không có căn cứ chứng minh; ông Nguyễn Bá H trình bày chỉ cho vợ chồng anh V1, chị H4 mượn để ở; bà Trần Thị H3 đã chết ngày 27/12/2015, trước thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất giữa ông S và bà B cho vợ chồng anh V1, chị H4, bà H3 chết không để lại di chúc về việc cho vợ chồng chị H4, anh V1 thửa đất; do bà H3 đã chết nên việc định đoạt di sản của bà H3 phải có sự đồng ý của các đồng thừa kế, tuy nhiên chị H4 không có căn cứ chứng minh, các đồng thừa kế cũng trình bày không biết về việc chuyển nhượng và không đồng ý chuyển nhượng; chị H4 cho rằng được bà H3 tặng cho khi còn sống, nhưng chị H4 cũng không có tài liệu chứng minh; hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/02/2017, ông S và bà B cho vợ chồng anh V1, chị H4 cũng không có số tiền chuyển nhượng; ông S bà B trình bày vì tin tưởng anh V1, chị H4 nói rằng đã được ông H, bà H3 cho nên đã ký tiếp hợp đồng chuyển nhượng trước đây đã chuyển nhượng cho ông H, bà H3; hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017 do Văn phòng đăng ký QSD đất cung cấp thì không có tài liệu tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản trên đất cho anh V1, chị H4.

Như vậy, việc định đoạt tài sản thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông H, bà H3, nhưng không có tài liệu thể hiện sự đồng ý ông H, bà H3, cũng như các đồng thừa kế của bà H3, nhưng năm 2017 anh V1, chị H4 làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất là không đúng quy định. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về yêu cầu trả lại quyền sử dụng thửa đất số 1361, TBĐ số 11, diện tích 474 m2 tại xóm F xã L, huyện Y. Đối với yêu cầu của chị H4 (theo trình này của người đại diện chị H4) về việc buộc ông H trích cho chị H4 200 triệu đồng, các đương sự không thỏa thuận được nên không có căn cứ chấp nhận.

Đối với thửa đất số 1630, TBĐ số 11, diện tích 207 m2, năm 2018, anh V1, chị H4 đã chuyển nhượng cho anh Lê Bá C1, chị Nguyễn Thị H1 (đã được chuyển nhượng qua nhiều người), hiện nay đã được cấp GCNQSD đất cho ông Phan Đình N2 và bà Đậu Thị L, quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu anh V1, chị H1 trả lại, đồng thời thống nhất, đồng ý việc chuyển nhượng thửa đất này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.1.4] Đối với tài sản trên đất:

Theo kết quả thẩm định trên thửa đất 1360 có: 01 ngôi nhà cấp 4 cũ đã xuống cấp trị giá 9 triệu đồng, 1 nhà chăn nuôi đã cũ trị giá 4.000.000 đồng; bờ tường bao xây bằng gạch táplo bao quanh dài 67,93 m, trị giá 6.000.000 đồng; 1 nhà bếp xuống cấp không còn giá trị sử dụng; 1 cây nhãn 7 năm tuổi trị giá 400.000 đồng. Các đương sự thống nhất trình bày, từ năm 2017 đến nay do ông H quản lý, do đó yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc V1, chị H1 trả lại tài sản trên đất là không có căn cứ chấp nhận.

Ngôi nhà cấp 4 cũ do ông H, bà H3 nhận chuyển nhượng của ông S bà B năm 1999, không phải tài sản do anh V1, chị H1 xây dựng, nên có căn cứ xác định là tài sản của ông H, bà H3.

Đối với các tài sản nhà chăn nuôi đã cũ trị giá 4.000.000 đồng; 67.93 m bờ tường bao xây bằng gạch táplo trị giá 6.000.000 đồng. Tại phiên tòa các đương sự xác định do vợ chồng anh V1, chị H1 tạo lập. Các bên thống nhất thỏa thuận ông H thanh toán cho chị H1 số tiền 10.000.000 đồng, ông H được quyền sở hữu tài sản là tường bao (đối với phần hàng rào nằm trên thửa 1360, ông H đề nghị giữ nguyên cho chủ sử dụng đất mới) và nhà chăn nuôi. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự, được chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu huỷ GCNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 đối với thửa số 1360, diện tích 681 m2.

Căn cứ hồ sơ xin đăng ký biến động quyền sử dụng đất do anh V1, chị H1 nộp, UBND huyện Y đã cấp giấy CNQSD đất mang tên anh V1, chị H1 là có căn cứ, đúng trình tự, thủ tục. Nhưng như đã phân tích trên, việc chuyển nhượng thửa đất giữa ông S, bà B cho anh V1, chị H1 vi phạm về quyền định đoạt của các đồng sở hữu, chưa có sự đồng ý của các đồng sở hữu vì vậy, việc cấp GCNQSD đất cho ông V1, bà H1 đã vi phạm về nội dung, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự khác.

Tuy nhiên, xét thấy: Sau khi được cấp giấy CNQSD đất, anh V1, chị H1 đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng, tách thửa 1630 diện tích 207m2 chuyển nhượng cho anh Lê Bá C1 và chị Nguyễn Thị H1; phần còn lại (được đo là thửa 1631 diện tích 474 m2) được đính chính tại Giấy CNQSD đất số số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017.

Thửa số 1630, tờ bản đồ số 11 diện tích 207 m2 (sau khi tách từ thửa số 1360, tờ bản đồ số 11, diện tích 681 m2) đã được chuyển nhượng cho ông Lê Bá C1, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Bá C1, bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng cho các chủ sử dụng sau này trong đó có ông Phan Đình N2, bà Nguyễn Thị L1. Các giao dịch này là ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất, chỉ tranh chấp đối với phần diện tích tại thửa số 1361, TBĐ số 11, diện tích 474 m2, theo kết quả đo đạc thẩm định là 474 m2; không yêu cầu giải quyết đối với phần diện tích đất 207 m2 tại thửa 1360 mà vợ chồng ông V1, bà H1 đã chuyển nhượng. Thống nhất việc thửa đất này đã được chuyển nhượng, không có yêu cầu gì.

Do đó, việc huỷ GCNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên ông Nguyễn Bá V1 và bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa số 1360, diện tích 681 m2 sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người nhận chuyển nhượng ngay tình, khi phải làm lại các thủ tục chuyển nhượng. Trong khi các đương sự không yêu cầu tranh chấp toàn bộ thửa đất.

[2.3] Đối với việc giấy CNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1631, TBĐ số 11, diện tích 474 m2 tại xóm F, xã L, huyện Y.

Như đã phân tích trên, việc chuyển nhượng thửa đất là không đúng quy định, do đó có căn cứ hủy giấy CNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1631, TBĐ số 11, diện tích 474m2 tại xóm F, xã L, huyện Y để đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho ông Nguyễn Bá H và đồng thừa kế của bà Trần Thị H3 trong việc đòi lại thửa đất.

[2.4] Đối với GCNQSD đất số 434051 UBND huyện Y cấp cho ông Phan Đình N2, bà Đậu Thị L ngày 05/4/2021 tại thửa số 1630 tờ bản đồ số 11. Xét thấy, ông Lê Bá C1, bà Nguyễn Thị H1, cũng như các chủ sử dụng đất sau này trong đó có ông Phan Đình N2, bà Nguyễn Thị L1 nhận chuyển nhượng là ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất, chỉ tranh chấp đối với phần diện tích tại thửa số 1361, TBĐ số 11, diện tích 474 m2, theo kết quả đo đạc thẩm định là 474 m2; không yêu cầu giải quyết đối với phần diện tích đất 207 m2 tại thửa 1360 mà vợ chồng ông V1, bà H1 đã chuyển nhượng. Thống nhất việc thửa đất này đã được chuyển nhượng, không có yêu cầu gì. Vì vậy, không cần thiết phải hủy GCNQSD đất đã cấp cho ông N2, bà L1.

[3]. Án phí và chi phí tố tụng.

[3.1]. Án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Do ông Nguyễn Bá V1 thỏa thuận chịu nên ông V1 chịu án phí dân sự sơ thẩm

[3.2]. Chi phí tố tụng. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Số tiền 8.016.640 đồng, ông Nguyễn Bá H thỏa thuận chịu, không yêu cầu các đương sự khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34 và điểm a, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 266, Điều 273, Điều 479, Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 133, Điều 164, Điều 237 Bộ luật dân sự năm 2013; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc buộc ông Nguyễn Bá H có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 10.000.000 đồng giá trị tiền tài sản trên đất là 67,93 m hàng rào và 01 chuồng trại chăn nuôi tại thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 11, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Ông Nguyễn Bá H có quyền sở hữu đối với phần hàng rào và 01 chuồng trại chăn nuôi tại thửa đất số 1631, tờ bản đồ số 11, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Chị Nguyễn Thị H1 được quyền sở hữu số tiền 10.000.000 đồng do ông Nguyễn Bá H giao.

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Bá H: Buộc anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 trả lại thửa đất số 1631, TBĐ số 11, diện tích 474 m2 tại xóm F, xã L, huyện Y cho ông H và các đồng thừa kế của bà Trần Thị H3 gồm anh Nguyễn Bá N1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Bá P, chị Nguyễn Thị Q, anh Nguyễn Bá Đ, anh Nguyễn Bá V1.
  • Hủy giấy CNQSD đất số CH 993958 do UBND huyện Y cấp ngày 18/4/2017 mang tên anh Nguyễn Bá V1 và chị Nguyễn Thị H1 phần đối với thửa đất số 1631, TBĐ số 11, diện tích 474 m2 tại xóm F, xã L, huyện Y.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

[3]. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Bá H phải chịu 8.016.640 đồng tiền chi phí thẩm định, định giá (đã thực hiện xong).

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Bá V1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Các đương sự quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội như sau:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Chị Nguyễn Thị H1 đang ở nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS - ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 24/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger