|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST | Ngày: 15/4/2024 |
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hòa
2. Ông Hoàng Văn Ngân
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện VKSND thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Như Q, địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Trần Tuấn A, địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị Như Q trình bày: Chị và anh Trần Tuấn A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 14/6/2002 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh Trần Tuấn A không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2019 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Đến nay chị Q xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Tuấn A.
Về con: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 chung là cháu Trần Thùy M, sinh ngày 22/01/2003 và cháu Trần Minh Đ, sinh ngày 22/3/2008. Sau khi chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A sống ly thân các con đều ở cùng chị Q. Đến nay cháu Trần Thùy M đã trưởng thành chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị Q có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Minh Đ đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh Trần Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Q giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, nuôi con và không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành ghi ý kiến của cháu Trần Minh Đ, cháu Đ có nguyện vọng được ở với mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho anh Trần Tuấn A nhưng không được, do anh Trần Tuấn A vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về. Do đó Tòa án tiến hành niêm yết văn bản tố tụng theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự; và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã chấp hành pháp luật đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Vũ Thị Như Q được ly hôn anh Trần Tuấn A, Về con: giao cháu Trần Minh Đ cho chị Vũ Thị Như Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi. Anh Trần Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Nguyên đơn và bị đơn đều có hộ khẩu thường trú tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị Như Q vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, Chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Chị Q xác định chị và anh Trần Tuấn A đã sống ly thân từ tháng 10/2019 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau, Chị Q đã không còn tình cảm vợ chồng với anh Tuấn A nữa. Tại đơn xin xác nhận ngày 09/02/2024, Tổ trưởng tổ dân phố số C, phường C nơi anh chị đăng ký thường trú xác nhận có mâu thuẫn vợ chồng, anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2019 đến nay.
Do đó xác định hôn nhân của chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, hiện nay anh chị đã không còn chung sống cùng nhau, không chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc gia đình, như vậy anh chị đã không còn tình nghĩa vợ chồng nữa. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q, xử cho chị Vũ Thị Như Q được ly hôn anh Trần Tuấn A. Hôn nhân của chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A có 02 con chung là cháu Trần Thùy M, sinh ngày 22/01/2003 và cháu Trần Minh Đ, sinh ngày 22/3/2008. Đối với cháu Trần Thùy M đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Trần Minh Đ, quá trình giải quyết vụ án cháu Đ đã có bản tự khai tại Tòa án, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án chị Q có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Trần Tuấn A cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh tại địa phương cho thấy anh Trần Tuấn A không đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ C, phường C, thành phố L nhưng có cư trú tại đây, tuy nhiên đi về giờ giấc không cố định, không thường xuyên có mặt tại địa phương. Mặt khác từ khi anh chị sống ly thân, cháu Đ vẫn ở với mẹ. Căn cứ trên ý kiến nguyện vọng của cháu Đ, căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị Như Q, giao cháu Trần Minh Đ cho chị Vũ Thị Như Q chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành 18 tuổi hoặc đến khi các đương sự có yêu cầu thay đổi khác. Anh Trần Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]Về tài sản chung: Chị Vũ Thị Như Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Vũ Thị Như Q phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Như Q, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Như Q được ly hôn anh Trần Tuấn A. Hôn nhân của chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung của chị Vũ Thị Như Q và anh Trần Tuấn A là cháu Trần Minh Đ, sinh ngày 22/3/2008 cho chị Vũ Thị Như Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi hoặc đến khi các đương sự có yêu cầu thay đổi khác. Anh Trần Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Vũ Thị Như Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Vũ Thị Như Q đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0000340 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Vũ Thị Như Q đã thi hành xong khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lý Thị Minh Yên |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị Như Q khởi kiện xin ly hôn anh Trần Tuấn A
