|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 15-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lam
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thái Linh
- Bà Nguyễn Thị Phương Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Lương là Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H
; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 02/11/1990, tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; trình độ học vấn 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; anh chị em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ 3; vợ: Bùi Thị H1, sinh năm 1993 (hiện đang lao động tại Đài Loan); con: 02 đứa, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 23/4/2021, bị Tòa án quận H, thành phố B, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc tuyên phạt 02 năm 02 tháng tù giam về tội Tổ chức cho người khác vượt cảnh (biên) nhà nước trái phép tại Bản án số (2021) MÂN 0303 HÌNH SƠ 74. Ngày 04/7/2023 bị bắt theo lệnh truy nã. Ngày 05/7/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- Chị Tạ Thị H3, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Chị Trần Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm P, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Ngô Sỹ T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trần Xuân P, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trần Xuân T3, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trần Xuân C1, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Lê Văn T4, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Phan Văn H4, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn D, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn T5, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị H5, sinh năm 1989; địa chỉ: Thị Trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Anh Vũ Văn P1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu năm 2020, Nguyễn Văn H, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang liên hệ với một người đàn ông Đài Loan tên V, H quen biết khi đang lao động tại Đài Loan vào năm 2019, (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt vấn đề nhờ V đưa H sang Đài Loan lao động trải phép, V đồng ý và thống nhất với Nguyễn Văn H chi phí đi Đài Loan Khoảng 7.000 USD, hình thức đi theo đường tiểu ngạch từ Việt Nam sang Trung Quốc rồi lên thuyền vượt biển sang Đài Loan. Đồng thời, V trao đổi và hứa hẹn nếu H tìm được nhiều người đi thì V sẽ sắp xếp cho Nguyễn Văn H đi sang Đài Loan mà không mất chi phí. Trong năm 2020, Nguyễn Văn H cùng với các đối tượng người Việt Nam và Đài Loan đã 02 lần tổ chức cho các công dân Việt Nam trốn sang Đài Loan trái phép, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào đầu tháng 5/2020, Nguyễn Văn H sử dụng mạng xã hội Facebook đăng nội dung với mục đích tìm người có nhu cầu đi Đài Loan trái phép. Đến khoảng giữa tháng 5/2020, V liên lạc nhờ Nguyễn Văn H đón các công dân từ Thành phố Hà Nội lên tỉnh Cao Bằng để trốn sang Trung Quốc, H đồng ý. V cho một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) số điện thoại của Nguyễn Văn H để trao đổi, thống nhất về việc đón và đưa các công dân từ Thành phố Hà Nội lên tỉnh Cao Bằng. Qua mạng xã hội Z, các bên thỏa thuận chi phí đi Đài Loan khoảng 6.500 USD đến 7.000 USD, ngoài ra phải chuẩn bị 3.000 NDT là chi phí vượt biên từ Việt Nam sang Trung Quốc; khi tới Trung Quốc phải nộp trước 3000 USD, sang Đài Loan nộp đủ số tiền còn lại. Đến giữa tháng 6/2020, Nguyễn Văn H đón và đưa 08 công dân đi từ bến xe M, Thành phố Hà Nội lên bến xe mới tỉnh Cao Bằng, gồm: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977, trú tại xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Tạ Thị H3, sinh năm 1984, trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; Trần Thị T1, sinh năm 1970, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Ngô Sỹ T2, sinh năm 1986, trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Trần Xuân P, sinh năm 1995; Trần Xuân T3, sinh năm 1998; Trần Xuân C1, sinh năm 1994; Lê Văn T4, sinh năm 1996, cùng trú tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, Nguyễn Văn H cùng các công dân thuê nhà nghỉ trong bến xe để nghỉ ngơi, đổi tiền từ VNĐ sang NDT rồi nộp cho Nguyễn Văn H mỗi người 3.000 NDT. Sau đó, xe ô tô do V bố trí đến đón các công dân chở lên khu vực biên giới thuộc tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và Trung Quốc rồi được người của V dẫn đi bộ theo đường rừng vượt biên trốn sang Trung Quốc. Khi các công dân lên xe, Nguyễn Văn H đã nộp toàn bộ số tiền thu được từ các công dân cho người dẫn đường rồi quay trở về Bắc Giang. Sau khi sang đến Trung Quốc, các công dân được đón và đưa về ở tập trung tại một trang trại nuôi lợn ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Tại đây, các công dân chịu sự quản lý của một người đàn ông Trung Quốc tên là A K1 và A K1 thu của mỗi công dân 3000 USD. Sau một thời gian, các công dân được bố trí lên thuyền vượt biển sang Đài Loan, khi gần đến bờ biển Đài Loan thì bị lực lượng Cảnh sát Đài Loan phát hiện, bắt giữ. Ngày 27/10/2020, các công dân trên bị chính quyền Đài Loan trục xuất về Việt Nam.
Lần thứ hai: Thông qua mạng xã hội Facebook, Phan Văn H4, sinh năm 1997, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nguyễn Văn S, sinh năm 1982, Trần Văn D, sinh năm 1981, Trần Văn T5, sinh năm 1992 cùng trú tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Vũ Văn P1, sinh năm 1985, trú tại xã N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, đã liên hệ đặt vấn đề với Nguyễn Văn H đưa họ trốn sang Đài Loan trái phép. Nguyễn Văn H trao đổi chi phí đi Đài Loan trái phép hết khoảng 7.000 - 7.500 USD, hình thức đi theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc rồi lên thuyền vượt biển trốn sang Đài Loan; khi đi cần chuẩn bị số tiền khoảng 12 triệu đồng (tương đương 3.000 NDT) để nộp chi phí đi từ Việt Nam sang Trung Quốc và 600 USD khi đến Trung Quốc thì nộp cho chủ tàu, sang đến Đài Loan có người đón và nộp số tiền còn lại cho họ. Khoảng cuối tháng 7/2020, V liên lạc với Nguyễn Văn H và được H trao đổi có 05 người đặt vấn đề với H đưa sang Đài Loan, V nói có thêm Đỗ Thị H5, sinh năm 1989, trú tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Hoàng Văn Đ, sinh năm 1994, trú tại xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đi cùng và bảo H sắp xếp cho họ trốn sang Trung Quốc. Ngày 20/7/2020, Nguyễn Văn H cùng với Nguyên Văn K2 (bạn của H) đón 07 công dân trên tại bến xe M, Thành phố Hà Nội rồi đón xe khách đi lên tỉnh Cao Bằng. Đến nơi, mọi người vào nghỉ tại một nhà nghỉ gần bến xe mới tỉnh Cao Bằng và đổi tiền từ VNĐ sang NDT, các công dân nộp cho Nguyễn Văn H mỗi người 3.000 NDT. Sau đó, xe ô tô do V bố trí đến đón 07 công dân trên lên khu vực biên giới thuộc tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và Trung Quốc rồi được người của V dẫn đi bộ theo đường rừng vượt biên trốn sang Trung Quốc. Khi các công dân lên xe, Nguyễn Văn H đã đưa toàn bộ số tiền đã thu của các công dân cho lái xe rồi quay về tỉnh Bắc Giang. Khi các công dân đến Trung Quốc, họ được sắp xếp ở tại nhà của chủ tàu người Trung Quốc tên B (không rõ nhân thân lai lịch) tại huyện L, thành phố P, tỉnh Phúc Kiến, B thu của mỗi công dân số tiền 600 USD. Khoảng một tháng sau, V sắp xếp cho các công dân về ở tại nhà của một người phụ nữ tên L1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thôn T, quận N, thành phố B, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc để chờ đi Đài Loan. Do chờ đợi quá lâu nên các công dân trên liên lạc với Nguyễn Văn H yêu cầu đưa họ sang Đài Loan và Nguyễn Văn H đã trốn sang Trung Quốc gặp các công dân trên. Sau đó, V liên lạc yêu cầu Nguyễn Văn H đưa các công dân trên đến thành phố P, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc và thu của mỗi người khoảng 1.400 USD đến 2.000 USD nộp cho chủ tàu để đi sang Đài Loan. Nguyễn Văn H đã trao đổi nội dung trên với các công dân, do có một số công dân không đủ tiền nên H đã đưa số tài khoản 107871866527 của Nguyễn Văn T6, mở tại Ngân hàng V1 (H mượn để sử dụng) để các công dân nhờ người thân chuyển tiền. Sau đó, người nhà của các công dân: Trần Văn D chuyền số tiền 40.000.000 đồng, Nguyễn Văn S và Trần Văn T5 chuyển số tiền 87.200.000 đồng, Phan Văn H4 chuyển số tiền 37.000.000 đồng vào số tài khoản trên. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Văn H chuyển tiền cho người phụ nữ tên L1 để nhờ đổi ra tiền NDT và tiền USD rồi nộp cho chủ tàu. Sau đó, các công dân được đưa lên thuyền vượt biên trốn sang Đài Loan, còn Nguyễn Văn H quay về lại nhà của người phụ nữ tên L1 tại thôn T, quận N, thành phố B, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc để chờ V tổ chức cho H trốn sang Đ. Ngày 25/9/2020, Nguyễn Văn H bị lực lượng chức năng Công an Trung Quốc bắt giữ. Đến ngày 23/4/2021, Nguyễn Văn H bị Tòa án quận H, thành phố B, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc đưa ra xét xử và tuyên phạt 02 năm 02 tháng tù giam về hành vi tổ chức cho người khác vượt biên (cảnh) qua Đài Loan trái phép. Ngày 24/12/2020, 07 công dân trên bị chính quyền Đài Loan trục xuất về Việt Nam.
Cáo trạng số 04/CT-VKSHT-P1 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội ” Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 349 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội ” Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”
Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 349 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/7/2023.
- Hình phạt bổ sung: Không.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của người này phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa cũng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ vừa nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích để được sang Đài Loan trái phép mà không phải mất chi phí, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 năm 2020, theo thỏa thuận với người đàn ông Đài Loan tên V, Nguyễn Văn H đã 02 lần có hành vi tổ chức cho 15 công dân Việt Nam trốn đi nước ngoài gồm: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977, trú tại xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Tạ Thị H3, sinh năm 1984, trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; Trần Thị T1, sinh năm 1970, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Ngô Sỹ T2, sinh năm 1986, trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Trần Xuân P, sinh năm 1995, Trần Xuân T3, sinh năm 1998, Trần Xuân C1, sinh năm 1994, Lê Văn T4, sinh năm 1996, cùng trú tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Phan Văn H4, sinh năm 1997, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nguyễn Văn S, sinh năm 1982, Trần Văn D, sinh năm 1981, Trần Văn T5, sinh năm 1992 cùng trú tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Vũ Văn P1, sinh năm 1985, trú tại xã N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Đỗ Thị H5, sinh năm 1989, trú tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Hoàng Văn Đ, sinh năm 1994 trú tại thôn Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa lên khu vực biên giới thuộc tỉnh Cao Bằng trốn sang Trung Quốc rồi tiếp tục vượt biên trái phép sang Đài Loan. Khi các công dân nói trên đến Đài Loan thì bị lực lượng chức năng Đài Loan phát hiện, bắt giữ và trục xuất về Việt Nam. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội ” Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 349 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện vì để đạt được mục đích đi sang Đài Loan mà không mất chi phí. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh và quản lý người lao động ở tại nước ngoài, làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn khu vực biên giới. Nên cần có mức hình phạt tương xứng nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo” là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy khi quyết định hình phạt cũng cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng không được hưởng lợi, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng: Không
[4] Những hành vi, đối tượng liên quan trong vụ án:
- Đối với người đàn ông tên Vương A K3; L; B là những người cùng với Nguyễn Văn H tổ chức cho các công dân trốn đi nước ngoài trái phép. Người phụ nữ tên L1 đã sắp xếp chỗ ăn nghỉ cho các công dân ở Trung Quốc, đổi tiền cho các công dân để các công dân nộp cho H; những đối tượng đã đón, đưa các công dân ở Cao Bằng trốn sang Trung Quốc do không xác định được nhân thân, lai lịch của những đối tượng này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý là có căn cứ.
- Đối với Nguyễn Văn K, sinh năm 1994, trú tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, là người đã đi cùng với Nguyễn Văn H và các công dân từ Hà Nội lên Cao Bằng vào tháng 7/2020 nhưng K không biết việc H đang tổ chức cho các công dân trốn sang Trung Quốc nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Văn K là có căn cứ.
[5] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội” Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05/7/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Không
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hậu phạm tội” Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.
