|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày 15-4-2024 “V/v Tranh chấp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần tiến hành xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn gồm:
- - Thẩm phán: Bà Lê Thị D;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh ngày 01/01/1975 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1974 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 05/4/2024, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày: Vào năm 1999, bà T với ông Nguyễn Thanh H quen biết nhau và qua thời gian tìm hiểu nên hai người có tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, được cha mẹ hai bên đồng ý cho phép tổ chức lễ cưới nhưng ông, bà không đăng ký kết hôn đúng theo pháp luật quy định. Sau ngày cưới vợ chồng về sống bên chồng tại ấp B, xã T, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc cho nhau. Đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng luôn bất hòa trong sinh hoạt hằng ngày thường cự cãi và nặng nhẹ nhau đủ điều. Cả hai vì thương con nên cố gắng nhường nhịn để gìn giữ hạnh phúc gia đình, nhưng không có kết quả. Từ đó nên bà đã đưa con về quê nhà cha mẹ ruột, vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, từ lúc ly thân không bên nào tạo cơ hội hàn gắn. Đến nay, nhận thấy vợ chồng ly thân đã lâu không thể hàn gắn được, cả hai không còn yêu thương và dành tình cảm cho nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt nên bà và ông H quyết định ly hôn để trả tự do cho nhau. Về con chung có 02 đứa con tên Nguyễn Thị Kiêm H1, sinh ngày 24/7/2002 và Nguyễn Thị Gia H2, sinh ngày 12/9/2011, hiện các con đang sống với bà. Về tài sản chung, nợ chung không có. Nay bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà với ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng. Về con chung thì Nguyễn Thị Kiêm H1, sinh ngày 24/7/2002, nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn lại Nguyễn Thị Gia H2, sinh ngày 12/9/2011, tùy theo nguyện vọng của con, muốn sống với ai thì người đó nuôi, bên còn lại không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản hòa giải và bản tự khai ngày 05/4/2024, bị đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày: Thống nhất như trình bày của bà Trần Thị T. Nay xét thấy quan hệ vợ chồng đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được nên với yêu cầu ly hôn của bà T thì ông cũng đồng ý ly hôn. Về con chung có 02 đứa con tên Nguyễn Thị Kiêm H1, sinh ngày 24/7/2002, nay con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn lại Nguyễn Thị Gia H2, sinh ngày 12/9/2011, tùy theo nguyện vọng của con, muốn sống với ai thì người đó nuôi, bên còn lại không phải cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của cháu Nguyễn Thị Gia H2: Nếu cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được sống với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Thẩm phán nhận định:
[1] Về tố tụng: Do nguyên đơn bà Trần Thị T và bị đơn ông Nguyễn Thanh H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định tại Điều 318, 320 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị T và bị đơn ông Nguyễn Thanh H tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu cũng có hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2015 thì giữa các bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc nhau, việc này cả hai bên đều thừa nhận nên các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông, bà là vợ chồng. Căn cứ khoản 1, Điều 14; Điều 15; Điều 16; khoản 2, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 4, Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”. Đối chiếu với trường hợp của bà T và ông H sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1999 cho đến nay mà không có đăng ký kết hôn, nay có yêu cầu ly hôn, Tòa án không công nhận bà Trần Thị T và bị đơn ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng.
[3] Về con chung: Nguyễn Thị Kiêm H1, sinh ngày 24/7/2002, nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn lại Nguyễn Thị Gia H2, sinh ngày 12/9/2011, theo nguyện vọng của cháu Gia H2 là muốn được sống với mẹ nên giao cháu Gia H2 cho bà Trần Thị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, về nợ chung: các đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Trần Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2, Điều 6 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 7, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 36; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4, Điều 147 và các Điều 228; 238; 320; 321; 322 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1, Điều 14; Điều 15; Điều 16; khoản 2, Điều 53; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 2, Điều 6 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không công nhận bà Trần Thị T và ông Nguyễn Thanh H là vợ chồng.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Gia H2, sinh ngày 12/9/2011 cho bà Trần Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, ông Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với người trực tiếp nuôi. Vì lợi ích của con, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung, về nợ chung: các đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung, không nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001796 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, do đó bà Trần Thị T được nhận lại số tiền 150.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày tính từ ngày bản án được giao hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Duyên |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Tr và ông H sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn
