|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọaPên toà: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân
Bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư kýPên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham
giaPên tòa: ông Mai Trường Trinh– Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 471/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1997. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.
- Bị đơn: anh Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1994. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng.
(chị T có mặt, còn anhP có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: chị và anhP xây dựng gia đình với nhau năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anhP ham chơi, không lo làm ăn kinh tế và quan tâm chăm sóc gia đình. Chị T đã nhiều lần nói chuyện với anhP để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng anhP vẫn không thay đổi làm cho cuộc sống gia đình vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên chị T và anhP đã sống ly thân từ tháng 11/2023 đến nay. Thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được nên chị yêu cầu được ly hôn với anhP.
Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Cát Tường V, sinh ngày 19/01/2018 và Nguyễn Cát Tường A, sinh ngày 25/02/2022. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai con chung cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không yêu cầu anhP phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra chị T không trình bày và yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu P trình bày: Anh và chị T kết hôn vào năm 2017 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh ham chơi, không lo làm ăn kinh tế chăm sóc gia đình. Anh và chị T đã nhiều lần nói chuyện vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên anhP và chị T đã sống ly thân từ khoảng tháng 11/2023 đến nay. Nay chị T làm đơn yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn vì anh muốn chị T tạo cơ hội cho anh sửa chữa lỗi lầm để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy các con.
Về con chung: AnhP xác định vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Cát Tường V, sinh ngày 19/01/2018 và Nguyễn Cát Tường A, sinh ngày 25/02/2022, khi ly hôn anhP đồng ý giao cả hai con chung cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anhP xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đồng thời, anhP đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Tòa án đã tiến hành mởPên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anhP vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
TạiPên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anhP. Về con chung: giao hai con chung là Nguyễn Cát Tường V, sinh ngày 19/01/20218 và Nguyễn Cát Tường A, sinh ngày 25/02/2022 cho chị T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tạiPên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tạiPên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Nguyễn Hữu P có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hữu P theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị T và anhP xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 08/02/2017. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện được nên làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị T, anhP phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, hơn nữa vợ chồng đều không nhẫn nhịn, không cố gắng tìm biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng nên mâu thuẫn kéo dài khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mặt khác, do anhP ham chơi không lo làm ăn quan tâm chăm sóc gia đình và còn sa vào tệ nạn xã hội, khiến cho mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Do không tìm được biện pháp cải thiện nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2023 đến nay. TạiPên tòa, chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn anhP vắng mặt nhưng trong lời khai của mình thì anhP không đồng ý ly hôn mà muốn chị T tạo cơ hội để sửa chữa lỗi lầm nhưng thực tế anhP cũng không có hành động cụ thể nhằm cải thiện quan hệ tình cảm vợ chồng. Cụ thể là đã có lần chị T làm đơn xin ly hôn nhưng đã rút đơn để tạo điều kiện cho anhP thay đổi nhưng vẫn không được và hiện nay anhP đang bị khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và hiện đang bị tạm giam. Do đó nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự do tình cảm vợ chồng không còn khả năng để cải thiện, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anhP.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Hữu P có hai con chung là Nguyễn Cát Tường V, sinh ngày 19/01/2018 và Nguyễn Cát Tường A, sinh ngày 25/02/2022. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung, còn anhP cũng đồng ý giao 02 con chung cho chị T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anhP không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì các con vẫn được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là Nguyễn Cát Tường V, sinh ngày 19/01/2018 và Nguyễn Cát Tường A, sinh ngày 25/02/2022 cho chị Nguyễn Thị Thu T có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu nên không xem xét.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anhP đều xác định không có và không yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: chị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T, xử cho chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Hữu P được ly hôn.
- Về con chung: giao con chung là Nguyễn Cát Tường V, sinh ngày 19/01/2018 và Nguyễn Cát Tường A, sinh ngày 25/02/2022 cho chị Nguyễn Thị Thu T có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Hữu P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004389 ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị T đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Chị T có mặt tạiPên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2024), riêng anhP vắng mặt tạiPên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạPên toà Phạm Thị Thúy |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn với anh Nguyễn Hữu P
