Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14 tháng 6 năm 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư.

2. Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 14/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2024 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1989

Địa chỉ: Khu phố X, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

*Bị đơn: Anh Lương Ngọc L, sinh năm 1980

Địa chỉ HKTT: Q, S, Thanh Hóa.

Địa chỉ hiện nay làm việc: Công ty C, thuộc Công ty K, Cụm C, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Chị D, anh L đều xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2024 và ý kiến trình bày của nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Ngày 05/9/2008, chị và anh Lương Ngọc L đăng ký kết hôn tại UBND X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hòa hợp với nhau. Đến cuối năm 2016, vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình vợ chông không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi cọ và bất đồng trong quan điểm sống cũng như làm ăn kinh tế. Hiện nay, chị và anh Lương Ngọc L đang sống ly thân. Nhận thấy xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu được ly hôn anh Lương Ngọc L.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 người con chung là Lương Ngọc P, sinh ngày 11/12/2008 và Lương Nhật H, sinh ngày 25/11/2013. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 2 người con chung. Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn anh Lương Ngọc L trình bày :

- Về quan hệ vợ chồng : Anh L trình bày về thời gian kết hôn và thời gian mâu thuẫn giữa 2 vợ chồng và thời điểm 2 vợ chồng sống ly thân như chị D trình bày. Nay chị D xin ly hôn anh không có ý kiến gì. Do bận công việc nên anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về con chung : Anh L thống nhất lời trình bày của chị D. Khi ly hôn, chị D có nguyện vọng được nuôi cả 2 người con chung anh không có ý kiến gì và đồng ý.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 ; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn với anh Lương Ngọc L.

+ Về con chung: Giao cháu Lương Ngọc P, sinh ngày 11/12/2008 và Lương Nhật H, sinh ngày 25/11/2013 cho chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

+ Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là anh Lương Ngọc L có nơi làm việc tại phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị D, anh L là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Ý kiến trình bày của nguyên đơn, bị đơn là anh chị tự nguyện kết hôn, có giấy chứng nhận kết hôn năm 2008. Hôn nhân của chị D và anh L phù hợp quy định pháp luật được coi là vợ chồng, hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Chị D, anh L đều thừa nhận việc 2 vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Chị D xin ly hôn thì anh L không có ý kiến gì. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị D và anh L đến nay đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Chị D và anh L có 02 người con chung là cháu Lương Ngọc P, sinh ngày 11/12/2008 và Lương Nhật H, sinh ngày 25/11/2013. Sau khi ly hôn chị D có nguyện vọng được nuôi cháu cả 2 người con chung, anh L đồng ý. Hội đồng xét xử thấy: Tại bản trình bày ý kiến của cháu P và cháu H đều có nguyện vọng ở với chị D sau khi bố mẹ ly hôn và hiện nay, cháu P và cháu H đều đang học ở trường cấp 3 và cấp 1 trên địa bàn thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, thấy nguyện vọng của chị D là phù hợp nên cần chấp nhận giao cháu Lương Ngọc P, sinh ngày 11/12/2008 và Lương Nhật H, sinh ngày 25/11/2013 cho chị D là người trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng. Về vần đề cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đương sự nào yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn anh Lương Ngọc L.

2. Về con chung: Giao cháu Lương Ngọc P, sinh ngày 11/12/2008 và Lương Nhật H, sinh ngày 25/11/2013 cho chị Trần Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn anh L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.

- Về vấn đề cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

3. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001723 ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận chị D đã nộp đủ số tiền trên.

4. Về quyền kháng cáo:

- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

- VKSND TP. Bắc Giang,

- CCTHADS TP. Bắc Giang,

- Các đương sự,

- UBND xã Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;

- Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn giữa chị D anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger