Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 24/2024/DS-ST

Ngày: 14-6- 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Minh Nhân và ông Lê Thanh Cường

- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Triều, kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-DS ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A);

Địa chỉ: Số A đường T, khu đô thị M, quận T, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Quang Đ, chức vụ: Giám đốc A chi nhánh huyện Q, Quảng Bình (Theo Văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022). Người đại diện theo ủy quyền lại: bà Nguyễn Thị Liễu T, chức vụ: Phó Giám đốc A Chi nhánh huyện Q, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (theo Quyết định ủy quyền số 21/QĐ-NHNoQN ngày 01/02/2024), có mặt.

- Bị đơn: ông Võ Thanh K, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/01/2024, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa xét xử vụ án, phía nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/10/2020, ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 ký kết Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 để vay Ngân hàng A chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng); thời hạn cho vay: 60 tháng kể từ ngày ký; mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa, cải tạo nhà ở; hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của mình, ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 569/2020/HĐTC ngày 15 tháng 10 năm 2020 với A chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Cụ thể tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn H, xã H, huyện Q, Quảng Bình; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 846028 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/12/2014, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 00883 mang tên ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 đã không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết tại Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 ngày 16/10/2020. Đến kỳ hạn phải trả ngày 16/10/2023, ông K, bà Đ1 không trả số tiền 65.000.000 đồng và đề phát sinh nợ quá hạn. Cụ thể, tính đến ngày 18/01/2024, ông K bà Đ1 còn dư nợ tổng số tiền: 230.543.073 đồng, trong đó nợ gốc: 217.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 12.609.782 đồng, nợ lãi quá hạn 933.291 đồng, vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K, bà Đ1 phải trả số tiền như trên và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, đến ngày 19/4/2024 và ngày 24/5/2024, ông K, bà Đ1 tiếp tục trả thêm được tổng số tiền nợ gốc 187.000.000 đồng cho Ngân hàng. Tính đến thời điểm xét xử ngày 14/6/2024, ông K, bà Đ1 còn nợ Ngân hàng số tiền: 30.244.318 đồng (trong đó nợ gốc: 30.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 189.863 đồng, nợ lãi quá hạn 54.455 đồng).

Tại phiên tòa, phía nguyên đơn Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 phải thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày 14/6/2024 là 30.244.318 đồng (trong đó nợ gốc: 30.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 189.863 đồng, nợ lãi quá hạn 54.455 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 ngày 16/10/2020 tính từ ngày 15/6/2024 đến khi ông K, bà Đ1 trả hết nợ. Trường hợp ông K, bà Đ1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như trên, yêu cầu Tòa án tuyên xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn H, xã H, huyện Q, Quảng Bình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 846028 do UBND huyện Q cấp ngày 31/12/2014, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 00883 mang tên ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1; theo hợp đồng thế chấp số: 569/2020/HĐTC ngày 15/10/2020.

Bị đơn bà Phạm Thị Đ1 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2024 như sau:

Bà thừa nhận vào ngày 16/10/2020, bà và chồng là ông Võ Thanh K có ký Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 để vay Ngân hàng A chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình với số tiền 330.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm ba mươi triệu đồng); Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của mình, ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13, địa chỉ ở thôn H, xã H, huyện Q, Quảng Bình. Vợ chồng ông, bà luôn cố gắng trả nợ cho Ngân hàng, nhưng khoảng cuối năm 2023, công việc làm ăn khó khăn nên phát sinh việc chậm trả lãi cho Ngân hàng. Việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà trả nợ, vợ chồng bà đã nhận được các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án nhưng vì bà sức khỏe yếu, ông K thường bận công việc nên ông, bà không đến làm việc tại Tòa án. Bà thể thiện mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để vợ chồng ông bà cố gắng tìm cách trả nợ.

Về phía ông Võ Thanh K, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông K vắng mặt, theo xác minh tại Công an xã H thì ông K có mặt, sinh sống tại địa phương. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông K hợp lệ.

Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên tại các buổi hòa giải phía bị đơn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải.

Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 68 tờ bản đồ số 13 tại thôn H, xã H, huyện Q theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 846028 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/12/2014, mang tên ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1. Theo Biên bản thẩm định và sơ đồ thẩm định ngày 02/4/2024 thì hiện trạng sử dụng thửa đất trên phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài sản trên thửa đất có công trình xây dựng gồm một ngôi nhà 2 tầng diện tích 118,5m², có mái bê tông tổng diện tích 18,8m², mái tôn diện tích 28,3m², diện tích nhà cấp 47,2m²; có hàng rào xây bao quanh thửa đất kích thước tổng chiều dài 47,7m; ngoài ra trên thửa đất có một số cây trồng lâu năm và ngắn ngày khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn ông Võ Thanh K, bà Phạm Thị Đ1 trong quá trình giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng các điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, Đề nghị tuyên buộc ông K, bà Đ1 trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 14/6/2024 là 30.244.318 đồng (Trong đó nợ gốc: 30.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 189.863 đồng, nợ lãi quá hạn 54.455 đồng). Ngoài ra ông K và bà Đ1 phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 15/6/2024 đến khi trả hết nợ. Trong trường hợp ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 569/2020/HĐTC lập ngày 15 tháng 10 năm 2020, tài sản thế chấp là thửa đất số 68 tờ bản đồ số 13 tại thôn H, xã H, huyện Q theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 846028 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/12/2014, mang tên ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1.

Đề nghị Tòa án tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng N khởi kiện bị đơn ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 làm ăn, sinh sống có mặt tại địa phương, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 tại phiên tòa lần thứ hai vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Võ Thanh K, bà Phạm Thị Đ1.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng:

Nhận thấy ngày 16/10/2020, ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 ký Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 để vay Ngân hàng A chi nhánh huyện Q, Quảng Bình số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm, ba mươi triệu đồng). Thời hạn cho vay: 60 tháng kể từ ngày ký. Mục đích sử dụng vốn vay: sửa chữa, cải tạo nhà ở. Hình thức bảo đảm tiền vay: cho vay có bảo đảm bằng tài sản.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của mình, ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 569/2020/HĐTC lập ngày 15/10/2020 với A chi nhánh huyện Q. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 846028 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/12/2014 đứng tên ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1.

Xét các Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan thẩm quyền theo quy định của pháp luật; vì vậy các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp có hiệu lực thực hiện kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.

Về lãi suất của tại Điều 2, Hợp đồng tín dụng 3803-LAV-202002451 ngày 16/10/2020: nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 150%/năm lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả là phù hợp quy định theo Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên các thỏa thuận về lãi suất là hợp pháp.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng A chi nhánh huyện Q đã giải ngân đủ số tiền vay 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng) cho ông K, bà Đ1. Quá trình trả nợ, ông K, bà Đ1 đã trả được một số tiền gốc và lãi. Tuy nhiên, kể từ ngày 16/10/2023, ông K, bà Đ1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng khi đến kỳ hạn, cho đến ngày khởi kiện 18/01/2024, ông K bà Đ1 còn dư nợ tổng số tiền: 230.543.073 đồng, trong đó nợ gốc: 217.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 12.609.782 đồng, nợ lãi quá hạn 933.291 đồng là vi phạm Hợp đồng tín dụng. Việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K, bà Đ1 trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng là có căn cứ theo thỏa thuận Điều 5, 6 của Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 ngày 16/10/2020 và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, đến ngày 19/4/2024 và ngày 24/5/2024, ông K, bà Đ1 tiếp tục trả được nợ gốc tổng số tiền 187.000.000 đồng. Như vậy, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 14/6/2024, ông K, bà Đ1 còn nợ Ngân hàng số tiền: 30.244.318 đồng (Trong đó nợ gốc: 30.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 189.863 đồng, nợ lãi quá hạn 54.455 đồng). Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về buộc ông K, bà Đ1 trả số tiền nợ gốc còn lại và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông K, bà Đ1 không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh: Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-202002451 ngày 16/10/2020; Điều 5, Điều 6 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 569/2020/HĐTC ngày 15/10/2020 để chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.

[3] Về chí phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 357, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 12, 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 phải thanh toán cho Ngân hàng N đến ngày 14/6/2024 tổng số tiền là 30.244.318 đồng (Ba mươi triệu, hai trăm bốn mươi bốn nghìn, ba trăm mười tám đồng), trong đó nợ gốc: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 189.863 đồng (Một trăm tám mươi chín nghìn, tám trăm sáu mươi ba đồng), nợ lãi quá hạn 54.455 đồng (năm mươi bốn nghìn, bốn trăm năm mươi lăm đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (14/6/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng 3803-LAV-202002451 ngày 16/10/2020 được ký kết giữa Ngân hàng N chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình với ông Võ Thanh K, bà Phạm Thị Đ1.

  2. Trong trường hợp ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 68 tờ bản đồ số 13 tại thôn H, xã H, huyện Q, được UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 846028 ngày 31/12/2014 mang tên ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1; theo Hợp đồng thế chấp số 569/2020/HĐTC ngày 15/10/2020 được ký kết giữa Ngân hàng N chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình với ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 phải hoàn trả cho hàng Nông nghiệp và N số tiền 4.300.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm nghìn đồng) về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  4. Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Võ Thanh K và bà Phạm Thị Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.512.215 đồng (Một triệu, năm trăm mười hai nghìn, hai trăm mười lăm đồng).

    Ngân hàng N được nhận lại số tiền 5.763.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003771 ngày 30/01/2024.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/6/2024); bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng NNPTNN khởi kiện yêu cầu Võ Thanh Khoa, Phạm Thị Đượm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger