TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 13/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Diện và ông Nguyễn Anh Tiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn Đ
(Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày .....1982 tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Q, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Đ và bà Nông Thị Y; vợ là Đinh Thị H, con: 01 con sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 (ngày 19/6/2020 bị UBND xã Q ra Quyết định số 111/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng, nhưng đến ngày 08/8/2020 bị UBND xã Q ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Quyết định số 05/2020/QĐ-TA, ngày 03/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sở sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 13/7/2022.
Nhân thân: Tại Bản án số 02/2015/HSST, ngày 06/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, xử phạt Nông Văn Đ 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 01/3/2019 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 11/02/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 02/4/2024 tiếp tục thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Công an xã Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại thôn T, xã Q; ngày 03/4/2024 bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bạch Thông cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 02/02/2024 tại thôn N, xã L, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Công an xã Lục B, huyện Bạch Thông tiến hành kiểm tra hành chính và bắt người phạm tội quả tang đối với Nông Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 02 (hai) gói nhỏ có đặc điểm được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi vấn là ma túy, kết quả thử phản ứng nhanh trùng với đặc trưng của chất ma túy, loại Heroine. Sau khi thử phản ứng tổ công tác gói lại như ban đầu và niêm phong trong phong bì ký hiệu “H”. Tiến hành cân xác định khối lượng được là 0,144 gam, niêm phong 0,144 gam chất màu trắng nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu “GД gửi giám định.
Tại cơ quan điều tra Nông Văn Đ khai nhận: Bản thân là người sử dụng và nghiện chất ma túy nên vào khoảng hơn 07 giờ 30 phút ngày 02/02/2024, Đ đi bộ từ nhà ra cầu thuộc thôn N, xã Q, huyện Bạch Thông rồi đón xe khách xuống thành phố Bắc Kạn với mục đích đi tìm mua ma túy về sử dụng. Đến phường H, thành phố Bắc Kạn, Đ gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 50 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) có biểu hiện sử dụng chất ma túy nên đã hỏi và mua được với người đàn ông này 02 gói ma túy đều được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau đó, Đ sử dụng một mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng gói 02 (hai) gói nhỏ ma túy vừa mua được và cất vào trong túi quần trước bên phải đang mặc rồi đón xe khách đi về. Đến cầu Q, Đ xuống xe đi bộ theo hướng xã L với mục đích tìm ống tre để làm cơm lam và tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi đến thôn N, xã L thì bị tổ công tác của Công an xã L kiểm tra hành chính, Đ tự nguyện lấy trong túi quần đang mặc ra 02 gói nhỏ ma túy và giao nộp, Công an xã L tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 02 (hai) gói nhỏ bên trong chứa chất màu trắng, Đ khai là ma túy có khối lượng là 0,144 gam (Không phẩy một bốn bốn gam).
Tại Kết luận giám định số: 75/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng là 0,144g (Không phẩy một bốn bốn gam).
Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSBT ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nông Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)....
c) Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 11/02/2024.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong ký hiệu “T58” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,126 gam (Không phẩy một hai sáu gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 03 (ba) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “H”;
* Về án phí: Áp dụng Điều 135 và 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận và nói lời sau cùng: xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo Nông Văn Đ đều khai nhận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 02/02/2024 tại thôn N, xã L, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp 0,144 gam (Không phẩy một bốn bốn gam) chất ma túy (loại Heroine). Mục đích Nông Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy là phục vụ cho nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Nông Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xét xử 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong bản án; 02 tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án này, bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng đến ngày 02/4/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang tại thôn Th, xã Q, huyện Bạch Thông và bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên ngày 03/4/2024 bị cáo bị thay đổi biện pháp ngăn chặn bị bắt để tạm giam. Xét thấy cần phải có hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm về ma túy tại địa phương.
[4]. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua với một người đàn ông tại khu vực phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn vào buổi sáng ngày 02/02/2024, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không có cơ sở để điều tra xác minh.
[5]. Về vật chứng: Các vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy, gồm: 01 (một) phong bì đã niêm phong ký hiệu “T58” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,126 gam (Không phẩy một hai sáu gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 03 (ba) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cùng 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu kí hiệu “H”;
[6]. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản chung, riêng gì, bản thân nghiện chất ma túy, xét thấy áp dụng hình phạt bổ sung không khả thi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ: 20 (Hai mươi) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 03/4/2024, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 11/02/2024.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong ký hiệu “T58” bên trong là mẫu chất trong phong bì ký hiệu “GĐ” còn lại 0,126 gam (Không phẩy một hai sáu gam) cùng phong bì, bao gói cũ mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 03 (ba) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trăng cùng 01 (một) phong bì niêm phong ban đâu kí hiệu “H”;
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 14/5/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông)
* Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ma Thị Nguyên |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy
