Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T1

TỈNH T2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13/5/2024

(V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa

chị M - anh H)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Hạnh Mỹ.
  2. Ông Trần Văn Hiểu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1 tham gia phiên tòa:

Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 01/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1989 (chị M vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn ĐBB, xã NH, huyện T1, tỉnh T2.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 (anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

Địa chỉ: Thôn ĐBB, xã NH, huyện T1, tỉnh T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình hòa giải, nguyên đơn là chị Phạm Thị M trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, có địa chỉ tại thôn ĐBB, xã NH, huyện T1, tỉnh T2 tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NH, huyện T1, tỉnh T2 vào ngày 01/11/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được sáu năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung, chị và anh H có 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014, con Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Khánh Nh, chị đồng ý cho anh H nuôi con chung Nguyễn Thị Khánh Th và Nguyễn Khánh D. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06 tháng 2 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2, anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978, trú tại thôn ĐBB, xã NH, huyện T1, tỉnh T2 trình bày:

Anh và chị Phạm Thị M tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NH, huyện T1, tỉnh T2 vào ngày 01/11/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau taị địa phương. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Ngày 27/12/2023 chị M tự ý bỏ nhà đi, anh và gia đình có tìm chị M về nhưng không được. Nay chị M xin ly hôn, quan điểm của anh là chị M phải về nói chuyện cùng anh, anh mới đồng ý ly hôn. Hai anh, chị có 03 con chung Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014, con Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả ba con chung và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Anh không đề nghị Tòa án giải quyết về tải sản chung và nợ chung của vợ chồng.

Tại biên bản xác minh ngày 22 tháng 2 năm 2024 tại Trụ sở UBND xã NH, huyện T1, ông Phạm Văn Đ, Chủ tịch UBND xã và ông Phạm Văn H1, Cán bộ tư pháp xã cung cấp:

Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NH, huyện T1, tỉnh T2 vào ngày 01/11/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại địa phương. Quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được. Nay chị M có đơn xin ly hôn anh H, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về quan hệ con chung, quá trình chung sống chị M và anh H có 03 con chung Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014, con Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017. Nếu anh, chị ly hôn, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết về nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung, quá trình chung sống chị M và anh H có tài sản chung, nợ chung hay không địa phương không nắm được.

Tại phiên công khai chứng cứ, hòa giải ngày 11/3/2024, chị M có mặt, anh H vắng mặt không có lý do. Ngày 12/4/2024, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án, chị Phạm Thị M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H không đến phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo thay đổi lịch phiên tòa, phiên tòa được mở lại vào ngày 13/5/2024.

Tại phiên tòa hôm nay, anh H văng mặt lần thứ hai không có lý do, chị M có đơn xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh H.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H. Về con chung, anh chị có 03 con chung Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014, con Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017; giao cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Khánh Thi, Giao cho anh Nguyễn Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Khánh Th và Nguyễn Khánh D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; anh H, chị M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả giải quyết tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Phạm Thị M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Văn H văng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M và anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ yêu câu giải quyết ly hôn của chị M cung cấp phù hợp với các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án nên xác định: Sau khi đăng ký kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa.

[2.2] Chị M có đơn xin ly hôn, Tòa án đã ra thông báo thụ lý, thông báo đến tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến các bên đương sự. Tòa án đã tổ chức hòa giải, anh H vắng mặt, anh H không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp để vợ chồng trở về đoàn tụ. Tại các phiên tòa, anh H đều vắng mặt; chị M kiên quyết xin ly hôn, bản thân anh H và chị M đã sống ly thân từ năm 2023. Như vậy, có thể thấy tình cảm vợ chồng của chị M và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cân áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

[3] Về con chung: Chị M và anh H có 03 con chung Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014, con Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017. Chị M có nguyện vọng được nuôi con chung Nguyễn Thị Khánh Nh và đồng ý để anh H nuôi con chung Nguyễn Thi Khánh Thương, Nguyễn Khánh D. Anh H có nguyện vọng được nuôi cả ba con chung và con Nguyễn Thi Khánh Thương, Nguyễn Khánh D có nguyện vọng được ở cùng bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cân giao cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017. Giao cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Chị M, anh H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Xử cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

  2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Thị Khánh Th, sinh ngày 14/3/2013, con Nguyễn Khánh D, sinh ngày 09/10/2014; Giao cho chị Phạm Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Khánh Nh, sinh ngày 05/6/2017. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh H, chị M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Nguyên đơn là chị Phạm Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị M đã nộp theo Biên lai số 0002530 ngày 24/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh T2, chị Phạm Thị M đã nộp đủ án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện T1;
  • - Chi cục THADS huyện T1;
  • - UBND xã NH (ĐKKH ngày 01/11/2011);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đồng Ngọc Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn M-H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger