TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 7 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thụy Trâm
- Bà Trương Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Thu- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phiên tòa số: 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đoàn Tấn L, sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;
Bị đơn: Chị Từ Thị Kim H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02/6/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Đoàn Tấn L trình bày:
Về hôn nhân: Anh Đoàn Tấn L và chị Từ Thị Kim H có tìm hiểu và kết hôn vào năm 2003, đăng ký kết hôn tại UBND xã P. Sau khi kết hôn từ năm 2012 đến nay chị H làm ăn trong thành phố Hồ Chí Minh một năm về nhà 2-3 lần, hai năm gần đây vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, đời sống chung không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân một thời gian, tình cảm vợ chồng đã không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Có hai con chung tên Đoàn Quỳnh Châu G, sinh ngày 05/7/2004 và Đoàn Tấn L1, sinh ngày 02/5/2008, cháu G đã thành niên, cháu L1 chuẩn bị vào lớp 11 Trường P, khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi cháu L1, không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh L khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Từ Thị Kim H đã nhận được thông báo của Tòa án nhưng không cung cấp văn bản ý kiến.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đoàn Tấn L, cho anh L được ly hôn chị Từ Thị Kim H. Về con chung: giao cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Tấn L1; tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn Anh Đoàn Tấn L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Từ Thị Kim H ở thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Bị đơn chị Từ Thị Kim H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
[3] Về hôn nhân: Anh Đoàn Tấn L và chị Từ Thị Kim H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã Đ, do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị H là hoàn toàn hợp pháp. Theo anh L, vợ chồng anh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả. Về phía chị H đã nhận được các thông báo của Toà án nhưng bỏ mặc không quan tâm, không đến Tòa để tham gia hòa giải. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh L và chị H đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh L được ly hôn chị H.
[4] Về con chung: Vợ chồng anh L, chị H có hai con chung tên Đoàn Quỳnh Châu G, sinh ngày 05/7/2004 và Đoàn Tấn L1, sinh ngày 02/5/2008, khi ly hôn, anh L yêu cầu được nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu L1 có nguyện vọng được ở với mẹ, tuy nhiên hiện tại cháu L1 chuẩn bị vào học 11 Trường P, còn chị H đang làm ăn trong Thành phố Hồ Chí Minh và chị cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho cháu L1 nên giao cháu L1 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng cho con: Anh Lưu không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
[6] Về nợ chung: Anh L khai không có.
[7] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Đoàn Tấn L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho anh Đoàn Tấn L được ly hôn chị Từ Thị Kim H.
- Về con chung: Giao con chung là Đoàn Tấn L1, sinh ngày 02/5/2008 cho anh Đoàn Tấn L được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng cho con: Anh Lưu không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị Từ Thị Kim H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh L khai không có.
- Về án phí: Anh Đoàn Tấn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006352 ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho anh l đươc ly hôn chị h
