|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 10/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Sơn
2. Ông Nguyễn Văn Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Chao Thị Mỹ Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo quyếtđưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tấn P; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/4/1989; Nơi sinh: Huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi thường trú: Ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện nay: Tổ A, khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Thị Út L); Có vợ là Dương Thị Thu T (đã ly hôn); Anh chị em ruột: 06 người. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/4/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Trần Bạch H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trần Bé E, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
2/ Bà Nguyễn Thị Ú (Nguyễn Thị Út L), sinh năm 1967. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Minh T1, Văn phòng luật sư Mai Hồng H1, Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ đến 18 giờ các ngày 15, 16, 17/11/2023, Trần Tấn P bơi vỏ composite từ nhà đi thăm lưới tại đoạn kênh thuộc tổ A, khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, P phát hiện có nhiều cái lú mười hai cửa ngục của ông Trần Bạch H đang đặt dưới kênh để bắt thuỷ hải sản, lợi dụng lúc tài sản không có người trông giữ, P đã lấy trộm 33 cái lú mười hai cửa ngục (mỗi ngày P lấy 11 cái lú) mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ ngày 18/11/2023 P tiếp tục bơi vỏ composite đi thăm lưới tại đoạn kênh nói trên thì một căn chòi đang được sửa chữa trong khu vực đất vuông của ông Trần Bạch H, sau khi quan sát không có ai trông giữ nên P đã dùng cây xà beng được chuẩn bị sẵn để cạy lấy trộm 18 tấm ván gỗ tràm bông vàng dùng để lót sàn và 11 tấm tol cũ dùng để đóng vách căn chòi, saukhi lấy trộm xong P dùng vỏ máy composite vận chuyển số tài sản trộm được đem về nhà cất giấu.
Sau khi sự việc được phát hiện, Cơ quan côngan đã mời Trần Tấn P làm việc và P đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.
- Vật chứng vụ án thu giữ được:
1/ 33 (Ba mươi ba) cái lú loại mười hai cửa ngục dùng để đánh bắt thuỷ sản sản, đã qua sử dụng.
2/ 18 (Mười tám) tấm ván gỗ tràm bông vàng, kích thước không đồng nhất, đã qua sử dụng.
3/ 11 (Mười một) tấm tol kích thước không đồng nhất, tổng trọng lượng 47kg, đã qua sử dụng.
4/ 01 (một) chiếc vỏ máy composite màu sơn xanh, chiều dài 4,7m chiều ngang 0,9m đã qua sử dụng.
5/ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, chiều dài 0,6m đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: 33 (Ba mươi ba) cái lú mười hai cửa ngục dùng để đánh bắt thuỷ sản sản, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.520.000 đồng; 18 (Mười tám) tấm ván gỗ tràm bông vàng, kích thước không đồng nhất, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.166.000 đồng; 11 (Mười một) tấm tol thước không đồng nhất, tổng trọng lượng 47kg, đã qua sử dụng, có giá trị là 470.000 đồng. Tổng cộng các tài sản có giá trị là 7.156.000 đồng.
Tại bản cáo số 23/CT-VKSKL ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo P từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng như sau:
Các vật chứng số 1, 2, 3 xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả cho chủ sở hữu là ông Trần Bạch H.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại vật chứng số 4 cho chủ sở hữu là ông Trần Bé E.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng số 5.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tấn P đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang truy tố, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm quy định pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết tố tụng của Cơ quan Cảnh điều tra huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Tấn P đã khai nhận như sau: Vào khoảng 17 giờ đến 18 giờ các ngày 15, 16, 17/11/2023, bị cáo đi thăm lưới tại đoạn kênh thuộc tổ A, khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, bị cáo phát hiện có nhiều cái lú mười hai cửa ngục của ông Trần Bạch H đang đặt dưới kênh để bắt thuỷ hải sản, lợi dụng lúc tài sản không có người trông giữ, bị cáo đã lấy trộm 33 cái lú mười hai cửa ngục (mỗi ngày lấy 11 cái lú) mang về nhà cất giấu, mục đích là để sử dụng lại. Đến khoảng 18 giờ ngày 18/11/2023 bị cáo phát hiện một căn chòi đang được sửa chữa trong khu vực đất vuông của ông Trần Bạch H, sau khi quan sát không có ai trông giữ nên bị cáo đã dùng cây xà beng được chuẩn bị sẵn để cạy lấy trộm 18 tấm ván gỗ tràm bông vàng dùng để lót sàn và 11 tấm tol cũ dùng để đóng vách căn chòi. Bị cáo sử dụng chiếc vỏ máy Composite chuyển số tài sản trộm cắp nêu trên để đem về nhà cất giấu. Các tài sản bị cáo trộm cắp được có tổng giá trị theo kết quả thẩm định giá là 7.156.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã lợi dụng sự vắng người và tài sản không có người trông giữ nên đã thực hiện trộm cắp các tài sản của ông Trần Bạch H gồm 33 cái lú mười hai cửa ngục, 18 tấm ván gỗ tràm bông vàng, 11 tấm tol cũ, tất cả tài sản này có tổng giá trị theo kết quả thẩm định giá là 7.156.000 đồng. Các vật chứng thu giữ được cũng phù hợp với đặc điểm và số lượng tài sản bị cáo đã thừa nhận trộm cắp, nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Căn cứ lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương truy tố bị cáo Trần Tấn P về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, làm mất an ninh trật tự tại địa phương và làm ảnh hưởng đến tư tưởng quần chúng nhân dân không an tâm lao động sản xuất và gây ảnh hưởng trật tự, an toàn xã hội. Theo đó, cần tuyên xử bị cáo ở mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại do tài sản bị hư hỏng trong quá trình bị cáo tháo dỡ với số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương đề nghị xử phạt bị cáo Trần Phấn P1 mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Bạch H đã nhận lại tài sản bị mất và đã nhận số tiền 10.000.000 đồng từ gia đình bị cáo đã bồi thường, khắc phục đối với tài sản bị hư hỏng. Ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng là 33 cái lú mười hai cửa ngục, 18 tấm ván gỗ tràm bông vàng, 11 tấm tol, đã qua sử dụng. Xét thấy các vật chứng này không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Bạch H theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 11/4/2024 là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc vỏ máy composite màu sơn xanh, chiều dài 4,7m chiều ngang 0,9m đã qua sử dụng. Xét thấy bị cáo sử dụng chiếc vỏ máy này để chở các tài sản trộm cắp nhưng không cho chủ sở hữu là ông Trần Bé E biết nên áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại vật chứng là 01 chiếc vỏ máy composite màu sơn xanh, chiều dài 4,7m chiều ngang 0,9m đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là ông Trần Bé E.
Đối với vật chứng là 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, chiều dài 0,6m đã qua sử dụng. Đây là công cụ được bị cáo dùng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, chiều dài 0,6m đã qua sử dụng.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Tấn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tuyên xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Tấn P mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (01/4/2024)
- Về áp dụng các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Bạch H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Xử lý vật chứng:
Các vật chứng là 33 cái lú mười hai cửa ngục, 18 tấm ván gỗ tràm bông vàng, 11 tấm tol, đã qua sử dụng. Các vật chứng này đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Bạch H theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 11/4/2024.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại 01 chiếc vỏ máy composite màu sơn xanh, chiều dài 4,7m chiều ngang 0,9m đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là ông Trần Bé E.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, chiều dài 0,6m đã qua sử dụng.
Các vật chứng gồm 01 chiếc vỏ máy composite màu sơn xanh, chiều dài 4,7m chiều ngang 0,9m đã qua sử dụng và 01 (một) cây xà beng bằng kim loại, chiều dài 0,6m đã qua sử dụng, đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện K theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/6/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Tấn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (10/7/2024). Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuỷ |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015
