trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TP. LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2024/DS-ST

Ngày: 10-6-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Phương

2. Ông Hoàng Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường B, Toà án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2024/DSST ngày 11/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-DS ngày 08/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 50/HPT-ST ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1).

Địa chỉ: Tầng A và tầng B, Tòa nhà S. Số 111A, P, phường B, quận A, TP .

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H – Giám đốc Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B.

Bà H uỷ quyền lại cho ông Hà Xuân D, bà Lê Phương A, ông Trần Minh H1 – Cán bộ ngân hàng TMCP Q.

(Giấy uỷ quyền số 032547.24 ngày 26/02/2024).

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ngân hàng TMCP Q (V2) do anh Hà Xuân D đại diện trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (V1) đã ký với bà Nguyễn Thị Xuân T các Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) số 6283700.21 ngày 29/10/2021, Phụ lục hợp đồng tín dụng số 4495319.22 ngày 06/06/2022 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Xuân T vay số tiền 6,650,000,000 đồng; Mục đích vay vốn: mua bất động sản; Thời hạn vay: 252 tháng tính từ ngày tiếp theo khoản vay được giải ngân đến ngày 29/10/2042; Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12,3%/năm. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: Hàng tháng vào ngày 1, từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 60 trả 7.000.000 đồng/tháng, từ tháng thứ 61 đến tháng thứ 251 trả 32,447,000 đồng/tháng, tháng cuối cùng trả hết số tiền còn lại; Ngày trả lãi: Hàng tháng vào ngày 1, kỳ trả nợ đầu tiên là 01/12/2021; Ngày trả phí: Theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Ngày 29/10/2021, V1 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Xuân T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7048496.21 ngày 29/10/2021 với số tiền 6.650.000.000 đồng.

Ngoài ra, căn cứ vào đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 23/03/2020, V1 đã cấp Thẻ Tín Dụng cho bà Nguyễn Thị Xuân T, chi tiết số thẻ như sau: 5130940000084565; Loại thẻ: V1; Hạn mức thẻ: 195,000,000 đồng; Lãi suất, phí: Theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện của V1 từng thời kỳ. Quá trình vay, bà T đã được nâng hạn mức thẻ lên 390.000.000đồng.

Để bảo đảm cho các khoản vay, bà T đã thế chấp các tài sản sau:

+ Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 583, tờ bản đồ số: 12, địa chỉ: Ấp B, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là Thành phố L, tỉnh Đồng Nai) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 204832, số vào sổ cấp GCN: CS 08503 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/05/2018 đứng tên bà Nguyễn Thị Xuân T". Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 2080, Quyển số: 06/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 25/06/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 9146896.19 ngày 27/06/2019.

+ Tài sản 2: "Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 164, tờ bản đồ số: 32, địa chỉ: Khu phố T, phường X, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DA 747317, số vào sổ cấp GCN: CS 06245 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/01/2021 đứng tên bà Nguyễn Thị Xuân T". Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 359, Quyển số: 02/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 03/02/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Xuân T đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD; HĐTC đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 03/01/2023 và đang xếp loại nợ nhóm 05 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N.

Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Xuân T phải trả số tiền tạm tính đến ngày 10/6/2024 là 4.002.646.416đồng, trong đó nợ gốc của hợp đồng vay và phụ lục hợp đồng là 2.596.500.000đ; lãi trong hạn: 365.321.056đ; lãi quá hạn: 316.563.115đ; nợ của thẻ tín dụng nợ gốc là 364.430.403đ; lãi trong hạn: 228.118.775đ; phí: 131.713.067đ.

Buộc bà T có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi phát sinh được quy định trong hợp đồng vay tính từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9146896.19 ngày 27/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số CS08503 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018, thửa đất số 583, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B; thành phố L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7561474.19.656 ngày 25/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số DA747317 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L.

Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải thanh toán cho đến khi hết khoản nợ cho V1.

Buộc bị đơn chịu mọi chi phí tố tụng theo quy định của của pháp luật.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân T đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày.

* Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn chưa chấp hành tốt.

Về thời hạn: Thụ lý ngày 11/01/2024, quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt tại địa phương, Toà án đã tiến hành đăng báo, đưa tin theo quy định.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền tạm tính đến ngày 10/6/2024 là 4.002.646.416đồng, trong đó nợ gốc của hợp đồng vay và phụ lục hợp đồng là 2.596.500.000đ; lãi trong hạn: 365.321.056đ; lãi quá hạn: 316.563.115đ; nợ của thẻ tín dụng nợ gốc là 364.430.403đ; lãi trong hạn: 228.118.775đ; phí: 131.713.067đ.

Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở bởi bị đơn ký hợp đồng vay và thế chấp đúng quy định. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện là đúng, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9146896.19 ngày 27/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số CS08503 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018, thửa đất số 583, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B; thành phố L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7561474.19.656 ngày 25/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số DA747317 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L.

Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải thanh toán cho đến khi hết khoản nợ cho V1.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật. Chi phí tố tụng bị đơn phải nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Xuân T phải trả số tiền tạm tính đến ngày 10/6/2024 là 4.002.646.416đồng, trong đó nợ gốc của hợp đồng vay và phụ lục hợp đồng là 2.596.500.000đ; lãi trong hạn: 365.321.056đ; lãi quá hạn: 316.563.115đ; nợ của thẻ tín dụng nợ gốc là 364.430.403đ; lãi trong hạn: 228.118.775đ; phí: 131.713.067đ nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Xuân T có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Ngân hàng TMCP Q (V1) khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân T nên ngân hàng là nguyên đơn. Ngân hàng ủy quyền cho ông Hà Xuân D, bà Lê Phương A đại diện theo đúng quy định tại Điều 138 – BLDS.

Bà Nguyễn Thị Xuân T là người bị kiện trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản nên là bị đơn.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

Giữa nguyên đơn và bà T có ký hợp đồng vay tiền 6.650.000.000đ và bà T có yêu cầu mở thẻ tín dụng với hạn mức 195.000.000đ, nâng hạn mức lên 390.000.000đ. Ngân hàng đã giải ngân cho bà T.

Tại (BL67), Điều 9 của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quy định về sự kiện vi phạm và xử lý sự kiện vi phạm: “Bên B sẽ bị coi là đã vi phạm các điều khoản của Hợp đồng này nếu bất kỳ sự kiện nào dưới đây xảy ra:

9.1.1 Bên B không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán (theo nhận định của bên A) hoặc xác nhận là không có khả năng thanh toán bất cứ khoản tiền nào đến hạn phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng; hoặc

9.1. 2 Bên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng bất kỳ điều khoản nào của Hợp đồng tín dụng và /hoặc Hợp đồng này và/hoặc cam kết khác với bên A; hoặc ......

Ngân hàng cung cấp bản sao kê thể hiện bà Nguyễn Thị Xuân T đóng tiền đến ngày 01/03/2023 là dừng không đóng nữa. Phía ngân hàng đã có các thông báo yêu cầu trả nợ, chủ động bàn giao tài sản (BL16), tuy nhiên bà T không thực hiện nên ngân hàng khởi kiện là có cơ sở.

Để bảo đảm cho khoản vay, bà T đã dùng 02 tài sản là quyền sử dụng đất số CS 08503 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 538, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận QSD đất số DA 747317 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/01/2021.

Các tài sản được thế chấp đúng quy định. Ngày 22/4/2024, Tòa án đã tiến hành xem xét tại chỗ, xác định các thửa đất dùng để bảo đảm cho các khoản vay đều bị khoá cửa bên ngoài không người ở do bà T đã bỏ địa phương đi từ tháng 04/2023; không thay đổi hiện trạng hoặc phát sinh bên thứ 3.

Quá trình giải quyết vụ án không xác định được bà Nguyễn Thị Xuân T ở đâu, Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự để bà T được biết nội dung vụ án và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà nhưng bà không đến tòa làm việc, cũng không có ý kiến trình bày gửi đến Tòa án, do vậy nên xem như bà đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ.

Từ những phân tích nêu trên căn cứ Điều 463, 464, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 1995 và ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Xuân T có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng TMCP Q (V1) số tiền tính đến ngày 10/6/2024 là 4.002.646.416đồng, trong đó nợ gốc của hợp đồng vay và phụ lục hợp đồng là 2.596.500.000đ; lãi trong hạn: 365.321.056đ; lãi quá hạn: 316.563.115đ; nợ của thẻ tín dụng nợ gốc là 364.430.403đ; lãi trong hạn: 228.118.775đ; phí: 131.713.067đ.

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9146896.19 ngày 27/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số CS08503 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018, thửa đất số 583, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B; thành phố L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7561474.19.656 ngày 25/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số DA747317 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L.

Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải thanh toán cho đến khi hết khoản nợ cho V1.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân T phải nộp 112.002.646đ (Một trăm mười hai triệu không trăm linh hai ngàn sáu trăm bốn mươi sáu đồng).

Hoàn trả cho ngân hàng E (Năm mươi mốt triệu tám trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm bảy mươi ba ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp. (Biên lai thu tiền số 0004869 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Về chi phí tố tụng: bị đơn phải chịu 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chi phí tố tụng xem xét tại chỗ, đăng báo, thuê xe. Số tiền trên nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn.

Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, khoản 2, Điều 92, Điều 93, Điều 95, khoản 2, Điều 97, Điều 180, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 463, 464, 466, 468 – BLDS – Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP Q với bà Nguyễn Thị Xuân T.

Buộc bà Nguyễn Thị Xuân T có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP Q (V1) số tiền 4.002.646.416đồng, trong đó nợ gốc của hợp đồng vay và phụ lục hợp đồng là 2.596.500.000đ; lãi trong hạn: 365.321.056đ; lãi quá hạn: 316.563.115đ; nợ của thẻ tín dụng nợ gốc là 364.430.403đ; lãi trong hạn: 228.118.775đ; phí: 131.713.067đ.

Buộc bà T có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi phát sinh được quy định trong hợp đồng vay tính từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9146896.19 ngày 27/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số CS08503 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018, thửa đất số 583, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B; thành phố L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7561474.19.656 ngày 25/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số DA747317 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L.

Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải thanh toán cho đến khi hết khoản nợ cho V1.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân T phải nộp 112.002.646đ (Một trăm mười hai triệu không trăm linh hai ngàn sáu trăm bốn mươi sáu đồng).

Hoàn trả cho ngân hàng E (Năm mươi mốt triệu tám trăm năm mươi lăm ngàn năm trăm bảy mươi ba ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp. (Biên lai thu tiền số 0004869 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Về chi phí tố tụng: bị đơn phải chịu 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chi phí tố tụng xem xét tại chỗ, đăng báo, thuê xe. Số tiền trên nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn kể từ ngày nhận bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

- TAND. tỉnh Đồng Nai;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND H. Cẩm Mỹ;

- Thi hành án dân sự H. Cẩm Mỹ;

- Những người tham gia tố tụng;

- Hồ sơ vụ án.

- Lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hải Yến


QUYẾT ĐỊNH

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Số:12/2024/QĐ-SCBSQĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Long Khánh, ngày 20 tháng 6 năm 2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

Căn cứ vào Điều 268 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án do sai sót đánh máy trong bản án số 24/2024/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã giải quyết sơ thẩm vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1).

Địa chỉ: Tầng A và tầng B, Tòa nhà S. Số 111A, P, phường B, quận A, TP .

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H – Giám đốc Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B.

Bà H uỷ quyền lại cho ông Hà Xuân D, bà Lê Phương A, ông Trần Minh H1 – Cán bộ ngân hàng TMCP Q.

(Giấy uỷ quyền số 032547.24 ngày 26/02/2024).

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

QUYẾT ĐỊNH:

Sửa chữa, bổ sung bản án số 08/2024/DS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai như sau:

Tại dòng thứ 01 đến dòng 10 từ trên xuống của trang 6 phần NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN và dòng 1 đến dòng 13 TỪ TRÊN XUỐNG CỦA TRANG 7 phần QUYẾT ĐỊNH của bản án đã ghi:

“Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9146896.19 ngày 27/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số CS08503 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018, thửa đất số 583, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B; thành phố L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7561474.19.656 ngày 25/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số DA747317 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L”.

Và

“ Buộc bà T có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi phát sinh được quy định trong hợp đồng vay tính từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9146896.19 ngày 27/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số CS08503 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 17/5/2018, thửa đất số 583, TBĐ số 12 tại ấp B, xã B; thành phố L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7561474.19.656 ngày 25/6/2019 đối với quyền sử dụng đất số DA747317 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2021, thửa đất số 164, TBĐ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L”.

Nay sửa chữa, bổ sung như sau: Phần NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng 2080, Quyển số: 06/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 25/06/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 9146896.19 ngày 27/06/2019 đối với thửa đất số 583, tờ bản đồ số 12, toạ lạc tại Ấp B, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố L, tỉnh Đồng Nai) và Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng 359, Quyển số: 02/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 03/02/2021 tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 32 toạ lạc tại khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Và phần QUYẾT ĐỊNH:

“ Buộc bà T có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi, phí phát sinh được quy định trong hợp đồng vay tính từ ngày 11/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;

Trường hợp bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng 2080, Quyển số: 06/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 25/06/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 9146896.19 ngày 27/06/2019 đối với thửa đất số 583, tờ bản đồ số 12, toạ lạc tại Ấp B, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố L, tỉnh Đồng Nai) và Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng 359, Quyển số: 02/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 03/02/2021 tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 32 toạ lạc tại khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Các nội dung khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/HSST ngày 10 tháng 06 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKS TP. Long Khánh;

- THA DS TP. Long Khánh;

- Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản ngân hàng V và Nguyễn Thị Xuân T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger