Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-6-2024

V/v ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Nguyễn Thị Mai
    • Bà Hà Thị Nga
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự :

  • - Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị L; ĐKNKTT: Điều T, Q, T, Hải Phòng; nơi ở: Số D Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt
  • - Bị đơn: Ông Hoàng Văn C (tên gọi khác Hoàng Văn Đ); ĐKNKTT: Điều T, Q, T, Hải Phòng; nơi ở: 4 Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị L trình bày: Bà và ông Hoàng Văn C (tức Hoàng Văn Đ), sau đây gọi là ông C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/01/1995. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc.

Tuy nhiên đến năm 2005 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do ông C có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, thường xuyên vắng nhà, sống thiếu trách nhiệm với gia đình vợ con, phần lớn công việc gia đình đều do bà L phải gánh vác, dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, đánh cãi nhau. Nhưng vì thương con còn nhỏ nên bà L nhẫn nhịn để các con có đầy đủ sự chăm sóc của bố mẹ. Trong một thời gian dài hai bên đã cho nhau nhiều cơ hội thay đổi, sửa chữa nhưng không có kết quả, ông C vẫn chứng nào tật ấy. Hiện nay tuy vợ chồng sống chung trong một nhà nhưng hai bên đã ly thân nhau gần 10 năm nay, việc ai người đó làm, kinh tế riêng biệt, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được, các con đã trưởng thành nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Thị H, sinh ngày 29/01/1996 và cháu Hoàng Văn T1, sinh ngày 03/6/2005. Hiện các cháu đều đã đến tuổi trưởng thành, nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ông C vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, song ông C không đến Tòa án theo giấy triệu tập; thông báo hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa, bà Đỗ Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông C cũng như những quan điểm về con chung và tài sản chung đã trình bày ở trên.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự; bị đơn đã không chấp hành các quy định về tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Đỗ Thị L được ly hôn với ông Hoàng Văn C (tức Hoàng Văn Đ). Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Thị H, sinh ngày 29/01/1996 và cháu Hoàng Văn T1, sinh ngày 03/6/2005. Hiện các cháu đều đã đến tuổi trưởng thành, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

  1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn là ông Hoàng Văn C (tên gọi khác Hoàng Văn Đ) có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Điều T, Q, T, Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số D Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa bà Đỗ Thị L và ông Hoàng Văn C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  2. Tại phiên tòa, bị đơn là ông Hoàng Văn C vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, cho thấy ông C đã tự từ bỏ quyền cũng như nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Bởi vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Hoàng Văn C.

- Về quan hệ hôn nhân:

  1. Bà Đỗ Thị L và ông Hoàng Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/01/1995. Quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị L và ông Hoàng Văn C là hợp pháp.
  2. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2005 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống của hai bên không còn phù hợp, vợ chồng thiếu sự tin tưởng nhau về mặt tình cảm, đánh cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, hai bên đã sống ly thân nhau nhiều năm nay.
  3. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù ông C có mặt tại địa phương, biết việc bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn và Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án thông qua những lần nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông C đã không hợp tác, không đến Tòa án để giải quyết. Việc này thể hiện ông C thiếu thiện chí trong việc hòa giải, bỏ mặc tình trạng hôn nhân ngày càng xấu đi. Mặt khác, qua điều tra xác minh tại địa phương và gia đình thấy rằng: Mặc dù bà L và ông C hiện vẫn đang chung sống cùng một nhà nhưng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, việc ai người ấy làm, hai bên đã ly thân nhau nhiều năm nay, không ai quan tâm đến ai như trình bày ở trên. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông C trên thực tế đã không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được, bởi vậy yêu cầu của bà L xin được ly hôn với ông C là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn và nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung:

  1. Bà L và ông C có 02 con chung là cháu Hoàng Thị H, sinh ngày 29/01/1996 và cháu Hoàng Văn T1, sinh ngày 03/6/2005. Hiện cả 02 con chung đều đã trưởng thành trên 18 tuổi, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung:

  1. Bà L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Bà L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đỗ Thị L được ly hôn ông Hoàng Văn C (tên gọi khác Hoàng Văn Đ).
  • - Về án phí: Bà Đỗ Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được tình trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền số 0005782 ngày 04 tháng 3 năm 2024. Bà L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Hoàng Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Phạm Thị Phong Lan

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân (để thi hành);
  • - UBND xã Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (ngày ĐKKH 16/01/1995);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lan - Cuối
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger