Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24 /2024/DS -

PT

Ngày 10 tháng 5 năm 2024

V/v: "Tranh chấp về việc mở lối đi".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng

Ông Phạm Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2024/TLDS-PT ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc "Tranh chấp về việc mở lối đi".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 03 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2024/DSPT-QĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/DSPT-QĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bạch Y, sinh năm: 1969;

Và chồng là ông Lê Đức T, sinh năm 1966;

(Ông T ủy quyền cho bà Y, theo văn bản ủy quyền ngày 13/5/2022).

Địa chỉ: P604 C, khu đô thị M, tổ A, phường C, quận N, thành phố Hà Nội. SĐT 0937.196.xxx.

2. Bị đơn: Ông Hà Quang L (tên gọi khác Hà Văn L1) sinh năm 1959

Và vợ là bà Chu Thị T1, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Bà Chu Thị T1 ủy quyền cho anh Hà Quang B, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ

- Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1979;

Chức vụ: Phó trưởng phòng TN&MT thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 04/5/2022, đề nghị xét xử vắng mặt).

3.2. UBND xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

- Đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Đăng K, sinh năm 1984;

Chức vụ: Công chức Địa chính, Xây dựng thuộc UBND xã C;

(Theo văn bản ủy quyền ngày 21/3/2023, đề nghị xét xử vắng mặt).

(Bà Y, ông C và ông K có đơn xin xử vắng mặt; Ông L1, Bà T1, anh B vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là vợ chồng bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T và các lời khai tiếp theo trình bày như sau:

Vào tháng 4/2004, (cụ thể ngày thì không nhớ) bà Y có mua của gia đình ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 01 thửa đất thổ cư tại khu 4, (nay là khu F), xã C diện tích là 492m² (trong đó 150m² đất ở và 342m² đất vườn), với giá 101.000.000 đồng; Sau khi đó bà Y đã làm xong thủ tục sang tên và đã được UBND huyện L (nay thuộc địa giới hành chính thành phố V), tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là: Giấy CNQSD đất) ngày 03/8/2004, mang tên hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y. Nhưng thực tế thì thửa đất của hộ bà Y không có lối để đi vào, muốn đi vào thì phải đi nhờ qua thửa đất của gia đình ông L. Do không am hiểu pháp luật nên từ đó cho đến nay hộ bà Y không sử dụng gì được đối với thửa đất mặc dù bà Y đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông L mở lối đi, nhưng giữa hai bên không thỏa thuận được với nhau. Nay bà Y đề nghị Tòa án buộc gia đình ông L, bà T1 phải mở lối đi để vào thửa đất của bà Y có chiều rộng là 3m và chiều sâu từ đường đi vào tới thửa đất của gia đình của hộ bà Y khoảng 40m. Hộ bà Y sẽ hỗ trợ một phần về giá trị đất cho gia đình ông L với giá là 30.000.000 đồng/1m mặt đường; 3m mặt đường là: 90.000.000 đồng.

Bà Y trình bày: Vì gia đình bà Y mua đất của gia đình ông L nên bà Y chỉ đề nghị gia đình ông L phải mở lối đi để hộ bà Y có lối đi vào thửa đất; bà Y không thể nào đề nghị các hộ giáp ranh khác mở lối đi để vào thửa đất của gia đình bà Y được, vì bà Y không mua đất của họ. Nên bà Y đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho gia đình bà theo quy định của pháp luật; bởi vì gia đình bà đã mua thửa đất này của hộ ông L cách đây khoảng 19 năm đến 20 năm nay, không sử dụng được gì.

* Phía bị đơn là ông Hà Quang L (tên gọi khác Hà Văn L1) trình bày như sau: Ông Hà Quang L và bà Chu Thị T1 là vợ chồng. Gia đình ông L, bà T1 có thửa đất thổ cư ở tại khu 4 (nay là khu F), xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; đất được UBND huyện P (cũ) (nay thuộc thành phố V), tỉnh Phú Thọ, cấp Giấy CNQSD đất ngày 08/12/1998, mang tên Hà Văn L1 (Hà Quang L). Đến tháng 4/2004, (cụ thể ngày thì không nhớ) gia đình ông L có bán cho hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y một phần đất của thửa đất này có diện tích là 492m² (trong đó 150m² đất ở và 342m² đất vườn), với giá là 101.000.000 đồng; Sau đó, hộ bà Y đã được đã được UBND huyện L (nay thuộc địa giới hành chính thành phố V), tỉnh Phú Thọ cấp Giấy CNQSD đất. Khi mua bán đất với nhau hai bên không thỏa thuận gì với nhau về việc mở lối đi để vào thửa đất của hộ bà Y cả. Bởi vì, lúc đó đang có dự án làm đường để vào khu di tích lịch sử Bác H, nhưng hiện nay dự án chưa được nhà nước thực hiện. (Mua trước dự án). Thửa đất của hộ bà Y hiện nay không có lối đi vào vì bao quanh là đất của gia đình ông L và các hộ gia đình khác. Nay hộ bà Y khởi kiện yêu cầu gia đình ông L phải mở lối đi thì ông L chỉ nhất trí với điều kiện là hộ bà Y phải trả cho gia đình ông L số tiền là 1.050.000.000 đồng (350.000.000 đồng/1m mặt đường nhựa, sâu 40m). Nếu không thì ông L không nhất trí, vì việc mua bán đã xong.

Ngày 18/4/2023, ông L có lời khai bổ sung khi chuyển nhượng diện tích đất 492m² với số tiền là 101.000.000 đồng vào năm 2004 thì hộ bà Y biết trước là có dự án đường chạy qua nên bà Y không cần mở lối đi vào thửa đất. Nay ông L yêu cầu hộ bà Y trả lại diện tích đất 492 m² và gia đình ông L sẽ hoàn trả lại tiền gốc là 101.000.000 đồng và tiền lãi theo Ngân hàng từ khi nhận tiền đến nay là 300.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, ông L nhất trí mở lối đi cho hộ bà Y để vào thửa đất, nhưng hộ bà Y phải thanh toán giá trị đất cho gia đình ông L với giá là: 200.000.000 đồng/1m mặt x 3m = 600.000.000 đồng và chiều sâu tính từ đường dân sinh cho đến thửa đất của hộ bà Y.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Văn C, là đại diện theo ủy quyền cho UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ trình bày: Ngày 08/12/1998, UBND huyện L (nay thuộc địa giới hành chính thành phố V), tỉnh Phú Thọ cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Hà Văn L1 (H) với diện tích 5.327,0 m²; Trong đó, có diện tích 1.080 m² (đất ở 300,0 m²; đất vườn 780,0 m²) tại thửa 72-1, tờ bản đồ số 29, ở tại khu D, xã C, huyện L, tỉnh Phụ Thọ.

Ngày 20/02/2004, hộ ông Hà Văn L1 (Hà Quang L), bà Chu Thị T1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 724/HĐ-CN cho hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y được UBND xã C xác nhận ngày 20/02/2004 và UBND huyện L xác nhận ngày 15/7/2004. Cùng ngày 02/12/2004, UBND xã C lập biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, kiểm tra mốc giới thửa đất hộ ông L (Thể hiện rõ: Phía đông giáp đường thôn xóm; phía Tây giáp thổ cư ông Hà Ngọc T2; phía Nam giáp đất mầu sắn; phía Bắc giáp thổ cư nhà Nguyễn Ngọc Đ) tại sơ đồ vị trí thửa đất thể hiện chỉ giới thu hồi đất và mốc giới chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Bạch Y, diện tích 492,0 m² (đất ở 150,0 m², đất vườn (nay là đất CLN) 342,0 m²) tại thửa đất số 72-1, tờ bản đồ số 29, Bao gồm chữ ký của hộ ông L; các hộ giáp ranh K1; T2 và xác nhận của UBND xã C. Tại sơ đồ chuyển quyền sử dụng đất thể hiện sơ đồ thửa đất có chỉ giới, ranh giới tuy nhiên không thể hiện ranh giới, chỉ giới đường giao thông.

Căn cứ Luật đất đai ngày 26/11/2003, Thông tư số 1990/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính “Hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”;

Theo quy định tại khoản 1, Điều 127 Luật đất đai năm 2003: “Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

  1. Việc nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định như sau:
    1. Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Ủy ban nhân dân xã N có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
    2. Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

Ngày 14/7/2004 phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thẩm định hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất ở trong đó thể hiện rõ nội dung liên quan đến hồ sơ kèm theo và diện tích chuyển nhượng có xác nhận của phó trưởng phòng Đào Hữu T3 và Ủy ban nhân dân huyện L.

Ngày 03/8/2004 phòng N1 có tờ trình về việc chuyển quyền sử dụng đất và cấp Giấy CNQSD đất.

Ngày 03/8/2004, UBND huyện L cấp GCNQSD đất số AA 067851 cho hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y diện tích 492,0 m² tại thửa đất số 72-4, tờ bản đồ số 29 (Trong đó đất ở 150,0 m²; đất Vườn (CLN) 342,0 m²);

Theo quy định trên việc cấp Giấy CNQSD đất đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.

Nay bà Nguyễn Thị Bạch Y khởi kiện “về lối đi vào thửa đất” đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Hà Đăng K đại diện theo ủy quyền của UBND xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trình bày: Vào tháng 4/2004, vợ chồng bà Y, ông T có mua của gia đình ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 01 phần đất thổ cư của ông L với diện tích 492m², hợp đồng được lập tại UBND xã C, thành phố V. Sau khi làm thủ tục ban đầu tại xã thì vợ chồng bà Y được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy CNQSD đất ngày 03/8/2004 mang tên bà Nguyễn Thị Bạch Y. Ngày 07/11/2003, UBND tỉnh P ban hành Quyết định số 3797/QĐ-UB về việc thu hồi và giao đất xây dựng tuyến đường số 2 và giải cây xanh cách ly, thuộc dự án rừng quốc gia Đền H1. Trong đó, tuyến đường giao thông số 2 ngoài diện tích lòng đường còn giải phóng mỗi bên 25m để trồng giải cây xanh và giải cách ly. Phần diện tích đất bà Y mua nằm ngoài phạm vi quy hoạch của dự án này. Dự án đã thực hiện thi công phần lòng đường trải nhựa năm 2008 nhưng đến nay chưa thực hiện giải phóng mặt bằng để thi công phần hành lang dải cây xanh cách ly rộng 25m. Như vậy, phần đất của bà Y chỉ giáp phần hành lang này chứ không liền với đường giao thông. Đến ngày 08/9/2022, UBND tỉnh P ra Quyết định số: 2258/QĐ-UBND, về Phê duyệt chủ trương đầu tư dự án và ngày 28/10/2022, UBND tỉnh P ra Quyết định số 2778/QĐ-UBND, về phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp tuyến đường nối khu di tích lịch sử quốc gia Đền H1 với khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong đó thi công phần hành lang giao thông nhưng không thu hồi thêm phần đất của ông L, bà T1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

[1]. Căn cứ vào: Điều 246, 254 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đaiKhoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 156, Điều 163, Điều 164, Điều 165, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2]. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Bạch Y và ông Lê Đức T về việc yêu cầu gia đình ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 phải mở lối đi;

- Buộc gia đình ông Hà Quang L (Hà Văn L1), bà Chu Thị T1 phải có trách nhiệm mở lối đi tại thửa đất số 72-1, tờ bản đồ số 29, ở tại khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để vào thửa đất số 72-4, tờ bản đồ số 29, ở tại khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cho gia đình bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T với chiều rộng giáp đường đi là 3m và chiều sâu từ mép đường đi kéo dài cho tới mép đất của hộ bà Y, ông T; Có diện tích đất là: 138,5m², theo chỉ giới: 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 33, 34, 35, 36, 17 theo Sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH khảo sát TVT tỉnh P lập ngày 10/6/2022, kèm theo.

- Buộc gia đình ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 phải tự có trách nhiệm tháo dỡ, chặt bỏ các tài sản có trên diện tích đất 138,5m², nằm trong chỉ giới 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 33, 34, 35, 36, 17, theo Sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH khảo sát TVT tỉnh P lập ngày 10/6/2022, kèm theo, để hộ bà Y, ông T được quyền sử dụng phần diện tích đất này làm lối đi.

- Buộc gia đình bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T phải có trách nhiệm thanh toán giá trị về quyền sử dụng đất cho gia đình ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 với số tiền là: 345.000.000đồng (Ba trăm bốn mươi năm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu gia đình bà Y, ông T không trả mà gia đình ông L, bà T1 có đơn đề nghị thi hành án, thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự.

- Gia đình bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất mở lối đi theo quy định của pháp luật.

[3]. Về chi phí tố tụng: Xác nhận bà Y, ông T đã nộp đủ số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

- Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T số tiền đã nộp tạm ứng án phí là: 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền số: AA/2020/0009302 ngày 29/3/2022, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và thi hành bản án theo đúng pháp luật quy định.

Ngày 03/10/2023 bà Nguyễn Thị Bạch Y là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với các lý do sau đây:

- Lối đi vào đất của gia đình bà cần đủ rộng từ 3,5 mét trở lên để đảm bảo việc phòng cháy chữa cháy khi cần xe cứu hỏa đi vào, bởi vì đất của nhà ông L (bị đơn) đang quản lý sử dụng rất rộng, phần bà yêu cầu tòa án xét xử mở lối đi là đất trồng cây, không phải là đất ở.

- Không đồng ý bồi thường cho bị đơn giá tiền 2.500.000VNĐ/m² (hai triệu năm trăm ngàn đồng/m²) đất vườn, đắt gấp hơn hai mươi (20) lần so với giá của Hội đồng định giá đã yêu cầu. Như vậy là không đúng với quy định của pháp luật, làm gây thiệt hại vô cùng lớn cho gia đình bà.

Theo khoản 3 Điều 254 Bộ luật dân sự thì đất của gia đình bà được tách từ thửa đất nhà ông L nên đề nghị áp dụng giá đền bù theo Hội đồng định giá.

Ngày 24/9/2023 bà Chu Thị T1 là bị đơn kháng cáo, nội dung: Gia đình bà và gia đình ông T không có tranh chấp, mâu thuẫn gì mà đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống, danh dự của gia đình bà. Việc mở lối đi phải được sự đồng ý thỏa thuận của gia đình bà nhưng Tòa án lại quyết định. Không đồng ý với quyết định của Tòa án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 21/3/2024 bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn rút một phần kháng cáo về yêu cầu mở rộng lối đi.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà khi giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đơn kháng cáo của đương sự đúng hạn luật định. Hội đồng xét xử đã xét xử đúng nguyên tắc, nguyên đơn và người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung kháng cáo, đại diện VKS đề nghị HĐXX: Về nội dung, đại diện VKS đề nghị HĐXX: Căn cứ vào khoản 2 Điều 312; Điểm b khoản 1 Điều 289; Khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo hướng: Đình chỉ giải quyết kháng cáo của bị đơn; Đình chỉ kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu mở rộng lối đi; Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về thanh toán giá trị tài sản (có bài phát biểu lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn làm trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ; UBND xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ do đại diện theo ủy quyền đều xin xét xử vắng mặt.

Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn do vắng mặt tại phiên tòa ngày 22/4/2024 và ngày 10/5/2024 không có lý do nên được coi là từ bỏ việc kháng cáo.

Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và thi hành bản án theo đúng pháp luật quy định.

[2] Xét kháng cáo:

[2.1] Kháng cáo của nguyên đơn về nội dung: Lối đi vào đất của gia đình bà cần đủ rộng từ 3,5 mét trở lên để đảm bảo việc phòng cháy chữa cháy khi cần xe cứu hỏa đi vào, bởi vì đất của nhà ông L (bị đơn) đang quản lý sử dụng rất rộng.

Tại phiên tòa ngày 21/3/2024 người kháng cáo rút nội dung này nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ nội dung này.

[2.2] Kháng cáo của nguyên đơn về nội dung: Không đồng ý bồi thường cho bị đơn giá tiền 2.500.000VNĐ/m². Theo khoản 3 Điều 254 Bộ luật dân sự thì đất của gia đình bà được tách từ thửa đất nhà ông L nên đề nghị giải quyết theo pháp luật hoặc áp dụng giá đền bù theo Hội đồng định giá.

- Về nguồn gốc thửa đất có diện tích là 492,0 m² (đất ở 150,0 m²; đất vườn, nay là đất CLN là 342,0 m²) tại thửa đất số 72-1, tờ bản đồ số 29 được UBND huyện L, (nay thuộc địa giới hành chính thành phố V), tỉnh Phú Thọ cấp Giấy CNQSD đất số AA067851 ngày 03/8/2004, đứng tên hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của hộ ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1.

Thửa đất số 72-1, tờ bản đồ số 29 nêu trên có diện tích là 1080m² đã được tách thửa chuyển nhượng cho hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y 492,0 m².

Thời điểm giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2004 là thời điểm Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực, theo quy định tại khoản 3 Điều 280 Bộ luật dân sự 1995 quy định như sau: “Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau, thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”. Hiện nay Bộ luật dân sự 2015 quy định tại khoản 3 Điều 254 như sau: “3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật đây là trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì phải dành lối đi cần thiết cho hộ bà Nguyễn Thị Bạch Y mà không có đền bù.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 724 được lập tại UBND xã C ngày 20/02/2004, các bên đã thỏa thuận diện tích 492,0 m² có các chỉ giới cụ thể nhưng không xác định lối đi là lỗi của các bên. Thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng đã hết do vậy Tòa án chỉ giải quyết việc xác định lối đi theo yêu cầu khởi kiện.

Phía ông L nhất trí mở lối đi cho hộ bà Y để vào thửa đất với chiều rộng của lối đi là 3m, nhưng ông L yêu cầu hộ bà Y phải trả cho gia đình ông L giá trị đất của lối đi với số tiền là: 600.000.000 đồng (200.000.000 đồng/1m mặt đường, chiều sâu tính từ đường giao thông kéo dài cho đến thửa đất của hộ bà Y) là không có căn cứ. Đồng thời cấp sơ thẩm căn cứ mức giá đưa ra của hai bên để tính trung bình cộng cũng là không có căn cứ.

Tòa án đã tiến hành xác minh và tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, xác định thửa đất số 72-4, tờ bản đồ số 29 của hộ bà Y bị bao bọc chung quanh là thửa đất của hộ ông L và các hộ lân cận, không có lối đi ra đường giao thông, lối đi thuận tiện nhất là đi qua thửa đất của hộ ông L. Việc hộ bà Y đề nghị hộ ông L phải mở lối đi có chiều rộng là 3m, chiều dài đến thửa đất của hộ bà Y, phía ông L hoàn toàn nhất trí nên yêu cầu của bà Y, ông T là có căn cứ cần chấp nhận.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ hiện trạng ngày 10/6/2022, xác định trên diện tích đất mở lối đi của hộ ông L có các tài sản gồm: 01 chuồng gà (đã cũ nát) và 02 cây Xoan đào, 01 cây Xoan, 01 cây Nhãn, 01 bức tường rào cao 1,5m.

Theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự của thành phố V thì giá trị đất cây lâu năm là: 111.900 đồng/1m² (Phần nhà ở của ông L, bà T1 không nằm trong diện tích đất trên nên xác định là loại đất cây lâu năm). Giá trị cây cối trên đất là 880.300 đồng (công trình khác trên đất hết khấu hao).

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc gia đình ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 phải mở một lối đi để vào thửa đất số 72-4 tờ bản đồ số 29, tại khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là có căn cứ nên được chấp nhận và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[2.3] Kháng cáo của bị đơn: Do bị đơn được triệu tập hợp lệ 02 lần vắng mặt không có lý do nên HĐXX đình chỉ giải quyết theo yêu cầu kháng cáo.

Tuy nhiên cũng nhận định rằng: Quyền mở lối đi là theo quy định của pháp luật. Do các bên không tự nguyện thỏa thuận thì Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết là đúng quy định.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có cơ sở nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Bị đơn thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 312; Điểm b khoản 1 Điều 289; Khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đình chỉ giải quyết kháng cáo của bị đơn.

Đình chỉ kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu mở rộng lối đi.

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về thanh toán giá trị tài sản.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

[2] Căn cứ vào khoản 3 Điều 280 Bộ luật dân sự 1995; Điều 246, 254 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai; Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bạch Y và ông Lê Đức T về việc yêu cầu ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 phải mở lối đi;

- Buộc ông Hà Quang L (Hà Văn L1), bà Chu Thị T1 phải có trách nhiệm mở lối đi tại thửa đất số 72-1, tờ bản đồ số 29, ở tại khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để vào thửa đất số 72-4, tờ bản đồ số 29, ở tại khu F, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ cho bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T với chiều rộng giáp đường đi là 3m và chiều sâu từ mép đường đi kéo dài cho tới mép đất của hộ bà Y, ông T; Có diện tích đất là: 138,5m², theo chỉ giới: 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 33, 34, 35, 36, 17 theo Sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH khảo sát TVT tỉnh P lập ngày 10/6/2022, kèm theo bản án sơ thẩm.

- Buộc ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 phải tự có trách nhiệm tháo dỡ, chặt bỏ các cây cối có trên diện tích đất 138,5m² nằm trong chỉ giới 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 33, 34, 35, 36, 17, theo Sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH khảo sát TVT tỉnh P lập ngày 10/6/2022, kèm theo bản án sơ thẩm, để hộ bà Y, ông T được quyền sử dụng phần diện tích đất này làm lối đi.

- Xác nhận bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T tự nguyện hỗ trợ thanh toán giá trị về quyền sử dụng đất cho ông Hà Quang L, bà Chu Thị T1 với số tiền là giá trị đất là 138,5m² x 111.900 đồng/1m² = 15.498.150 đồng;

- Buộc bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T thanh toán giá trị cây trên đất là 880.300 đồng.

Tổng phải thanh toán là: 16.378.450 đồng (mười sáu triệu, ba trăm bảy mươi tám ngàn, bốn trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Xác nhận bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T không lấy lại các cây cối đã đền bù trên diện tích đất 138,5m² được giao.

- Gia đình bà Nguyễn Thị Bạch Y, ông Lê Đức T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất mở lối đi theo quy định của pháp luật.

[3] Về chi phí tố tụng: Xác nhận bà Y, ông T đã nộp đủ và không yêu cầu bị đơn thanh toán.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch Y số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền số: AA/2023/0004365 ngày 04/10/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Ông Hà Quang L (tên gọi khác Hà Văn L1) và bà Chu Thị T1 được miễn án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - TAND thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về việc mở lối đi

  • Số bản án: 24/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về việc mở lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger