|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do -Hạnh Phúc ---------- |
|
Bản án số:24/2024/HS-ST Ngày: 09-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC – TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thu Thảo.
- Ông Nguyễn Hoàng Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh Liêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Minh N, sinh năm: 1980, tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: N củ cải; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 06/12.Cha: Phạm Văn H, sinh năm 1951, nghề nghiệp: Mua bán.Mẹ: Đinh Thị V, sinh năm 1961, nghề nghiệp: Mua bán. Cả 02 ngụ cùng địa chỉ với bị cáo. Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con lớn trong gia đình.Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1986, Trú tại: Xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Con: Phạm Thị Ngọc X, sinh năm 2007, nghề nghiệp: Học sinh.
- Từ nhỏ sống chung gia đình, lớn lên đi học đến lớp 06 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.
Ngày 16/11/2023 bị Chủ tịch UBND xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 617/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép trái chất ma túy với thời hạn 01 năm.
- Tiền án, tiền sự: Không
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Tiền Giang.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Anh Mã Thanh L, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Trú tại: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Đinh Thị V sinh năm 1961 (có mặt);
- Trú tại : Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- + Ông Phạm Văn H, sinh năm 1986 (có mặt);
- Trú tại : Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- + Chị Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1980 (vắng mặt);
- Trú tại : Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 18/9/2023, anh Mã Thanh L, sinh năm 1973, ĐKTT: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang là nhân viên Chi nhánh công ty TNHH T1, gọi tắt là công ty T1 có địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang do anh Trần Văn Đ1, sinh năm 1991, ĐKTT: số B, đường D, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh làm chủ đi ngủ tại trụ sở để bảo vệ tài sản của công ty và có để sạc pin 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, loại A14, màu đen trên đầu giường. Đến 05 giờ ngày 19/9/2023, khi thức dậy thì anh L phát hiện mất điện thoại trên và Modern Wifi của công ty nên trình báo Công an xã H.
Qua dữ liệu camera, Công an xã H tiến hành mời bị cáo Phạm Minh N làm việc. Kết quả, bị cáo N thừa nhận là người đã thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại trên, cụ thể như sau: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/9/2023, bị cáo N điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63B8 – 189.99 của cha ruột tên Phạm Văn H, sinh năm 1954, ngụ cùng địa chỉ ngang Công ty trên thì bị cáo N đã có hành vi lén lút vào lấy trộm điện thoại Samsung Galaxy, loại A14, màu đen của anh L và đem đến cửa hàng điện thoại “Thanh Trâm” do chị Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1980, ĐKTT: Tổ A, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang làm chủ cầm với giá 1.500.000đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi biết việc, bà Đinh Thị V, sinh năm 1961 là mẹ ruột và ngụ cùng địa chỉ với bị cáo chủ động đến cửa hàng điện thoại di động trên chuộc lại điện thoại và giao nộp cho Công an xã H. Đến ngày 26/9/2023, Công an xã H chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 494/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T kết luận giá trị của điện thoại trên là 3.272.000đồng.
Về thu giữ tang vật:
- - 01 vỏ hộp và điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, loại A14 màu đen, đã qua sử dụng.
- - 01 USB chứa video clip ghi lại hình ảnh vụ trộm.
- · Đối với mô tô 02 bánh biển số 63B8 – 189.99. Qua điều tra xác minh xe mô tô này do ông Phạm Văn H, sinh năm 1954 là cha ruột của bị cáo N đứng tên sở hữu. Ngày 19/9/2023, ông H không biết N sử dụng xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không thu giữ là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 vỏ hộp và điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, loại A14 màu đen, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định do anh Mã Thanh L, sinh năm 1973, ĐKTT: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang làm chủ nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh L xong.
Tại Cáo trạng số 17/CT- VKSTP ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, truy tố bị cáo Phạm Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Tòa án căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;; xử phạt bị cáo Phạm Minh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/02/2024
Về vất chứng vụ án đề nghị căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB chứa video clip ghi lại hình ảnh vụ trộm.
Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì không đặt ra xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định tại Diều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận thấy như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của họ. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về hành vi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Minh N khai nhận về hành vi phạm tội đúng với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng
01 giờ 30 phút ngày 19/9/2023 tại Công ty T1 có địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo Phạm Minh N có hành vi lén lút lấy cắp điện thoại Samsung Galaxy, loại A14, màu đen của anh Mã Thanh L có trị giá thành tiền là 3.272.000đồng (Ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an toàn tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo hình phạt thật nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo với xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung..
- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội: Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, tự nguyện bồi thường thiệt hại, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.bị hại xin giảm nhe hình phạt cho bị cáo Đ2 là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt.
- Về xử lý vật chứng:
- - 01 USB chứa video clip ghi lại hình ảnh vụ trộm cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 vỏ hộp và điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, loại A14 màu đen, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định do anh Mã Thanh L, sinh năm 1973, ĐKTT: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang làm chủ nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh L xong.
- Về trách nhiệm dân sự: bà Đinh Thị V không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền chuộc điện thoại nên Tòa án không đặt ra xem xét
- - Đối với mô tô 02 bánh biển số 63B8 – 189.99. Qua điều tra xác minh xe mô tô này do ông Phạm Văn H, sinh năm 1954 là cha ruột của bị cáo N đứng tên sở hữu. Ngày 19/9/2023, ông H không biết N sử dụng xe mô tô trên đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không thu giữ là có căn cứ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm thẩm theo quy định pháp luật.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ; Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1/ Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b,i s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/02/2024.
2/ Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sư; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án :01 USB chứa video clip ghi lại hình ảnh vụ trộm.
4/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Phạm Minh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Bị cáo, Bà V có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Trường |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
