Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC NINH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DSST

Ngày: 08/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Quang

2. Bà Trần Xuân Đạm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 176/2023/TLST- DS ngày 14/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-DS ngày 13/5/2024 và quyết định tạm ngừng phiên toà số /2024/QĐST-DS, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Quách Kim X, sinh năm 1965 (có mặt)

HKTT: Ấp A, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1980 (vắng mặt)

HKTT: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Quách Kim X trình bày: Do quen biết nên bà X tin tưởng cho bà Đỗ Thị Thu H mượn 01 số vàng và tiền mặt nhưng không lập thành văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói, cụ thể như sau: Vào ngày 22/02/2023, bà X cho bà Đỗ Thị Thu H vay 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24K. Đến ngày 09/5/2023, bà Đỗ Thị Thu H tiếp tục vay 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18K. Đến ngày 19/5/2023, bà H tiếp tục vay số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Khi vay, bà H hứa chỉ vay trong vài ngày sẽ hoàn trả lại cho bà X.

X nhiều lần yêu cầu bà Đỗ Thị Thu H trả toàn bộ số vàng và tiền nợ cho bà X nhưng bà H không chịu trả cứ hẹn lần này đến lần khác. Đến ngày 10/10/2023, bà X có gửi thông báo đến hạn trả nợ cho bà H với thời hạn đến hết ngày 15/10/2023 nhưng bà H vẫn không chịu trả cho bà X nên bà X khởi kiện yêu cầu bà H trả cho bà X 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24K, 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18K và số tiền 3.000.000 đồng.

Tại phiên toà bà X rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bà H trả 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24k và số tiền 1.000.000 đồng. Bà X chỉ yêu cầu bà H trả 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k và số tiền 2.000.000 đồng.

* Theo các Biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất, đơn phản tố, bị đơn bà Đỗ Thị Thu H trình bày: Vào khoảng tháng 5/2023, bà H có vay của bà X 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k. Bà H và bà X thoả thuận giá trị của sợi dây chuyền là 10.000.000 đồng và thống nhất bà H vay của bà X số tiền 10.000.000 đồng, hai bên thoả thuận lãi mỗi tháng 1.500.000 đồng. Ngoài ra, bà H còn vay của bà X số tiền 3.500.000 đồng. Bà H đã trả cho bà X được 04 tháng tiền lãi là 6.000.000 đồng. Sau đó do bà X nói xấu bà H sai sự thật nên hai bên xảy ra mâu thuẫn nên bà H không trả tiền lãi nữa. Còn 3.500.000 đồng thì bà X cho vay nhưng không tính lãi.

Do bà X nhiều lần nhờ bà H mua đồ dùm bà X, bà H đã mua cho bà X cụ thể như sau: 01 nồi cơm điện (mua tại cửa hàng Đ) số tiền 950.000 đồng; tiền xe bà X đi S là 400.000 đồng (01 lượt đi, 01 lượt về); Giày dép, quần áo là: 2.350.000 đồng; thịt bò 02kg là 440.000 đồng, 03 thùng sữa Milo loại to 970.000 đồng; đi khám bệnh cho bà X là 730.000 đồng; Đi làm tóc cho bà X là 630.000 đồng; Mua cà phê, siro cho bà X bán nước là 350.000 đồng; 01 áo chống nắng 250.000 đồng; chuyền nước và nước cho bà X (do bà X bệnh) 250.000 đồng; mua ống nước tưới cho bà X 450.000 đồng; mua thuốc bôi tay 150.000 đồng; 02 kg me là 60.000 đồng; 01 thùng bia 250.000 đồng; 03 cây thuốc lá 460.000 đồng; 01 bao đường 50kg là 1.050.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà H đã mua đồ cho bà X hết số tiền 9.740.000 đồng.

H đồng ý trả cho bà X 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k và số tiền 3.500.000 đồng. Đồng thời có yêu cầu phản tố buộc bà X trả cho bà H số tiền 15.740.000 đồng (trong đó tiền lãi bà H đã trả 6.000.000 đồng và số tiền bà H mua đồ cho bà X là 9.740.000 đồng).

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tại phiên tòa:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật, xác định đúng tư cách đương sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân tuân thủ quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 463; 466, 468 BLDS năm 2015

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà X, buộc bà H trả cho bà X giá trị tương đương 01 lắc tay 03 chỉ vàng 18k và số tiền 2.000.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Quách Kim X về việc yêu cầu bà H trả 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24k và số tiền 1.000.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Thị Thu H về việc buộc bà X trả cho bà H số tiền lãi bà H đã trả 6.000.000 đồng và số tiền bà H mua đồ cho bà X là 9.740.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Quách Kim X khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Đỗ Thị Thu H. Tranh chấp giữa bà X và bà H được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước và hiện đang cư trú tại ấp T, xã L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật.

Bị đơn bà Đỗ Thị Thu H có yêu cầu phản tố đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng không đến nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H.

Tại phiên toà nguyên đơn bà X rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bà H trả 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24k và số tiền 1.000.000 đồng. Việc bà X rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà X đối với yêu cầu bà H trả 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24k và số tiền 1.000.000 đồng.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của X về việc bà Đỗ Thị Thu H phải trả giá trị của sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k:

X cho rằng ngày 09/5/2023, bà Đỗ Thị Thu H vay 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18K. Khi bà X cho bà H vàng thì không viết giấy tờ gì, không có ai làm chứng. Bà H cũng thừa nhận có vay của bà X 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k và đồng ý trả cho bà X 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k.

Như vậy lời khai của các đương sự là thống nhất nên có đủ căn cứ xác định bà H có vay của bà X 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18K, bà H chưa trả cho bà X. Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng thì Ngân hàng N là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng và cá nhân chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được Ngân hàng N cấp Giấy phép. Do đó bà X cho bà H vay vàng khi chưa được cấp giấy phép là không đúng quy định pháp luật. Vì vậy, cần quy đổi vàng thành tiền tại thời điểm xét xử và buộc bà H trả tiền cho bà X tương ứng với số vàng mà bà H có nghĩa vụ phải trả cho bà X. Tại thời điểm xét xử, giá vàng 18k là 4.500.000 đồng/ chỉ, giá trị tương ứng của sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k là 4.500.000 đồng x 03 chỉ = 13.500.000 đồng. Như vậy cần buộc bà H trả cho bà X giá trị tương ứng của sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k là 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm ngàn đồng).

[2.2] Về tiền lãi:X cho rằng khi cho vay bà X và bà H không thoả thuận lãi suất và nay bà X cũng không yêu cầu bà H trả lãi mà chỉ yêu cầu bà H trả lại giá trị vàng và tiền đã vay của bà X. Bà H cho rằng khi vay sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18k, hai bên thoả thuận giá trị sợi dây chuyền là 10.000.000 đồng và lãi suất 1 tháng là 1.500.000 đồng. Bà H đã trả lãi cho bà X 4 tháng, 01 tháng chuyển khoản vào tài khoản con gái bà X là 1.500.000 đồng, còn lại bà H đưa cho bà X nhưng không viết giấy tờ gì. Bà X thừa nhận bà H có chuyển khoản vào tài khoản của con gái bà X số tiền 1.500.000 đồng nhưng đây là tiền trả số tiền gốc bà H vay của bà X là 4.500.000 đồng nên còn lại 3.000.000 đồng chứ không phải là tiền lãi. Bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền 1.500.000 đồng là tiền lãi và cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà H trả cho bà X thêm 03 tháng tiền lãi khác nữa. Do đó không có căn cứ để xác định bà H trả lãi cho bà X số tiền lãi 6.000.000 đồng như bà H đã trình bày. Đối với số tiền 1.500.000 đồng chuyển khoản vào tài khoản con gái bà X thì cả bà H và bà X đều xác nhận bà H có chuyển khoản nhưng không có căn cứ xác định là tiền lãi, bà X thừa nhận là bà H chuyển trả tiền gốc đã vay nên cần chấp nhận lời trình bày của bà X, xác định bà H có trả cho bà X số tiền gốc là 1.500.000 đồng.

[2.3] Về yêu cầu của nguyên đơn bà Quách Kim X về việc buộc bà H trả số tiền nợ 2.000.000 đồng:X cho rằng ngày 19/5/2023, bà H vay bà X số tiền 3.000.000đồng. Sau đó bà X cho bà H vay thêm 1.000.000 đồng và trả tiền cho nhân viên giao hàng thay bà H số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền bà H cho bà X vay là 4.500.000 đồng, tuy nhiên bà H đã chuyển khoản vào tài khoản của con gái bà X 1.500.000 đồng để trả cho bà X nên chỉ còn nợ lại số tiền 3.000.000 đồng. Tuy nhiên nay bà X rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ khởi kiện bà H đối với số tiền vay 3.500.000 đồng và đồng ý khấu trừ số tiền 1.500.000 đồng bà H đã trả, chỉ yêu cầu bà H trả số tiền 2.000.000 đồng.

H cũng thừa nhận vay của bà X số tiền 3.000.000 đồng và có nhờ bà X trả tiền hàng cho nhân viên giao hàng là 500.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà H vay của bà X là 3.500.000 đồng. Như đã lập luận ở trên, bà H cho rằng số tiền 1.500.000 đồng chuyển khoản vào tài khoản con gái bà X là tiền lãi nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên cần căn cứ vào lời khai của bà X xác định là số tiền bà H trả tiền gốc như bà X trình bày là có căn cứ. Bà X cho rằng đã nhận số tiền 1.500.000 đồng trừ vào số tiền gốc và nay chỉ yêu cầu trả số tiền 2.000.000 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Như vậy tổng số tiền bà H phải trả cho bà X là 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm ngàn đồng)

[2.5] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn Đỗ Thị Thu H về việc buộc bà X trả cho bà H số tiền 15.740.000 đồng.

H là bị đơn có yêu cầu phản tố, tuy nhiên Toà án đã triệu tập bà H đến Toà án làm việc nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bà H không đến. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Toà án đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Thị Thu H. Bà H có quyền khởi kiện lại đối cới yêu cầu phản tố này theo quy định của pháp luật.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.” Như vậy bị đơn bà Đỗ Thị Thu H phải chịu án phí đối với số tiền bà X được chấp nhận là 15.500.000 đồng, án phí DSST bà H phải chịu là 775.000 đồng (bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 218; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 4 của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Quách Kim X. Buộc bà Đỗ Thị Thu H trả cho bà Quách Kim X số tiền 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm ngàn đồng).
  2. Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà H trả 01 lắc tay 05 chỉ vàng 24k và số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Bà Quách Kim X có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu này theo quy định của pháp luật.
  3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Thị Thu H về việc buộc bà Quách Kim X trả cho bà Đỗ Thị Thu H số tiền 15.740.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng). Bà Đỗ Thị Thu H có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố này theo quy định của pháp luật.

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

5. Về án phí: Bà Quách Kim X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự trả lại cho bà X số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010832 ngày 14 tháng 11 năm 2023 là 1.076.000 đồng (một triệu không trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).

Đỗ Thị Thu H phải chịu 775.000 đồng (bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 394.000 đồng (ba trăm chín mươi tư ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010920 ngày 29/12/2023 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006024 ngày 16/01/2024.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Lộc Ninh;
  • - THA DS huyện Lộc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DSST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 24/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quách Kim X tranh chấp Hợp đồng vay tài sản với bà Đỗ Thị Thu H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger