TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS - ST Ngày: 07/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quốc Kỳ và ông Hg Bá Viên;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TL-HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/HSST-QĐ ngày 24/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn H; sinh ngày 13 tháng 9 năm 1990; Tại: huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Xóm Vôi Hạ, xã Miền Đồi, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở hiện nay: Xóm Tiến Lâm, xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; TRh độ học vấn: 9/12; Bố đẻ là: Bùi Văn L, sinh năm 1970 (Đã chết); Mẹ đẻ là: Bùi Thị R, sinh năm 1967; Vợ là: Lý Thị H, sinh năm 1989; Bị cáo có 01 con sinh năm 2010; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không
Ngày 23/5/2022 bị cáo bị Công an phường Đồng Tiến, Thành phố Hoà Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức Cảnh cáo (Quyết định số 05/QĐ – XPHC).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Bà Bùi Thị O, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Xóm Đai, xã Thạch Yên, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lý Thị H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm Tiến Lâm, xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 19/4/2024, H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu sơn xanh BKS: 28H1–542.61 của vợ là chị Lý Thị H, sinh năm 1989 để đi uống thuốc Methadone tại thị trấn Cao Phong. Sau khi uống thuốc H đi về nhà bố mẹ tại xóm Vôi Hạ, xã Miền Đồi, huyện Lạc Sơn theo đường tắt qua xã Thạch Yên. Do không biết đường đi nên khi đến khu vực xóm Đai, xã Thạch Yên, huyện Cao Phong, H thấy nhà của bà Bùi Thị O không có cổng nên vào hỏi đường nhưng không có ai ở nhà. H thấy ở góc sân có 01 bộ máy bơm nước xịt rửa xe để trên xe rùa, quan sát xung quanh không có người H nảy sinh ý định trộm cắp bộ máy bơm xịt rửa xe. H dùng tay tháo vòi xịt của máy bơm, rồi dùng dao gần đó chặt ống dây nước, sau đó nhấc bộ máy bơm nước cho lên yên xe phía sau rồi chở vào rừng keo. Đi được một đoạn, H dừng lại lấy dây cao su trong cốp xe buộc lại rồi tiếp tục di chuyển theo đường rừng về huyện Tân Lạc và vòng về nhà vợ tại xóm Tiến Lâm, xã Bắc Phong để cất giấu bộ máy bơm trên với mục đích sử dụng tại gia đình. Ngày 20/4/2024, Bùi Văn H đến Cơ quan Công an huyện Cao Phong để đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản và tự nguyện giao nộp 01 bộ máy bơm nước xịt rửa xe đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu sơn xanh BKS: 28H1 – 542.61 đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG, ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Phong kết luận: Tại thời điểm ngày 19/4/2024, 01 (Một) máy bơm nước, loại động cơ 3.0 KW, nhãn hiệu TOAN PHAT, gắn với đầu nén, có giá trị 2.350.000₫ (Hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngày 03/5/2024 bà Bùi Thị O đến Cơ quan Công an huyện Cao Phong giao nộp 01 con dao dài 52cm (Năm mươi hai centimet), chuôi dao bằng gỗ dài 20cm (Hai mươi centimet) có gắn đai bằng kim loại màu bạc, phần lưỡi dao dài 32cm (Ba mươi hai centimet) bằng kim loại màu đen có đầu nhọn để trong vỏ gỗ dài 36cm (Ba mươi sáu centimet). Đây là con dao H dùng để chặt ống nước nối với máy bơm.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSCP, ngày 24 tháng 6 năm 2024 truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản (1) Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội hành vi "Trộm cắp tài sản" của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã nêu.
2
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cao trạng số 16/CT-VKSCP, ngày 24 tháng 6 năm 2024. Đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H về tội "Trộm cắp tài sản"
- Về hình phạt chính: Căn cứ Khoản (1) Điều 173; Điểm (i); (s) Khoản (1); Khoản (2) Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" . Thời hạn tù tính từ ngày 20/04/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc máy bơm nước loại động cơ 3.0 KW nhãn hiệu TOAN PHAT gắn đầu nén và con dao chuôi bằng gỗ dài 52cm (Năm mươi hai centimet) đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cao Phong đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc máy bơm nước và con dao cho gia đình bà Bùi Thị O nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu sơn xanh BKS: 28H1 – 542.61, quá tRh điều tra xác định chị Lý Thị H là chủ sở hữu hợp pháp và chị H không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Cao Phong đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị H quản lý, sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi được nhận lại tài sản từ cơ quan Công an huyện Cao Phong bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo Bùi Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, Kiểm sát viên trong quá tRh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tRh tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá tRh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có lý do. HĐXX xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai và các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc giải quyết vụ án của những người này, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại, không ảnh hưởng đến sự giải quyết khách quan của vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ Điều 292 BLTTHS tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người trên. Do đó Hội đồng quyết định tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Khoảng 09 giờ ngày 19/4/2024, H mượn xe mô tô của vợ đi uống thuốc Methadone tại thị trấn Cao phong. Uống thuốc xong H về nhà bố mẹ tại xóm Vôi Hạ, xã Miền Đồi, huyện Lạc Sơn theo đường tắt qua xã Thạch Yên. Khi đến khu vực xóm Đai, xã Thạch Yên, H thấy nhà bà O không có cổng nên vào hỏi đường nhưng không có ai ở nhà. H thấy ở góc sân có 01 (Một) bộ máy bơm nước xịt rửa xe, thấy không có người nên H nảy sinh lòng tham và trộm cắp chiếc máy bơm nước xịt rửa xe trên đem về nhà vợ để cất giấu với mục đích sử dụng tại gia đình.
[3] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa cũng như trong hồ sơ vụ án phù hợp với kết luận đinh giá tài sản cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để lén lút vào nhà lấy 01 (Một) bộ máy bơm nước xịt rửa xe trị giá 2.350.000₫ (Hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Như vậy có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản (1) Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo gây hoang mang tâm lý, bức xúc trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy quá tRh điều tra và tại phiên tòa bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự ra đầu thú. Gia đình bị cáo có ông nội là người tham gia cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm (i); (s) khoản (1) khoản (2) Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4.3] Về nhân thân: Ngày 23/5/2022 bị cáo bị Công an phường Đồng Tiến, Thành phố Hoà Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức Cảnh cáo (Quyết định số 05/QĐ – XPHC.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản để đảm bảo thi hành án, trước khi phạm tội bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, và là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- Đối với 01 máy bơm nước, loại động cơ 3.0 KW, nhãn hiệu TOAN PHAT màu xám, gắn với đầu nén màu đen đã qua sử dụng và 01 con dao chuôi bằng gỗ dài 52cm (Năm mươi hai centimet), đã qua sử dụng, cơ quan Công an đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc máy bơm nước và con dao cho chủ sở hữu là gia đình bà Bùi Thị O quản lý, sử dụng là đúng quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu sơn xanh BKS: 28H1 – 542.61 cơ quan điều tra xác định chị Lý Thị H là chủ sở hữu hợp pháp, chị H không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Cao Phong đã trả lại cho chị H quản lý, sử dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi được nhận lại tài sản từ cơ quan Công an huyện Cao Phong Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Căn cứ Khoản (1) Điều 135; Khoản (2) Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
5
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; 332 và Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Căn cứ Khoản (1) Điều 173, Điểm (i); (s) Khoản (1); Khoản (2) Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2024.
3. Căn cứ Khoản (1) Điều 135; Khoản (2) Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ các Điều 331, 332 và Điều 333 BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Thịnh |
6
Bản án số 24/2024/HS - ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 24/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trậm cắp tài sản
