|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/DS-ST Ngày: 07 - 6 - 2024. V/v tranh chấp HĐ tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Đê.
2. Bà Nuyễn Thị Tuyết Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ: Số B N, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc K – Giám đốc Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B. Ông K ủy quyền lại cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y – Chuyên viên Kiểm soát rủi ro. (có mặt)
(Văn bản ủy quyền số 041/GUQ-CNBR ngày 05/3/2024)
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ánh T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Hoàng Y đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/06/2017, bà T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 39.869.039 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 49.842.600 đồng (gốc: 35.463.654 đồng, lãi + phí: 14.378.946 đồng). Căn cứ Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước, sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch. Dư nợ đến ngày 31/07/2023 được tính = Số tiền giao dịch – (Số tiền thanh toán – Phí, lãi)
Trong đó: Số tiền giao dịch: 39.869.039₫; Tổng các khoản phí: 4.997.838đ; Tổng tiền lãi: 16.133.427đ; Số tiền thanh toán: 49.842.600₫
Dư nợ đến ngày 31/07/2023 = 39.869.039₫ – (49.842.600₫ – 4.997.838đ – 16,133,427đ) = 11,157,704₫.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm hợp đồng về thời hạn trả nợ nên ngày 31/07/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của Ngân hàng.
Tính đến ngày 07/6/2024, bà T còn nợ tổng cộng 15.972.176 đồng, trong đó nợ gốc 11.157.704 đồng và lãi quá hạn từ ngày 31/07/2023 đến ngày hôm nay 4.814.472 đồng.
Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa giải quyết buộc bà Huỳnh Thị Ánh T phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền nêu trên. Ngoài ra bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 07/06/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay với lãi suất quy định tại Hợp đồng.
2. Bị đơn bà Huỳnh Thị Ánh T: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
3. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đều chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng dân sự, vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng vụ án.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Huỳnh Thị Ánh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng 15.972.176 đồng, trong đó nợ gốc 11.157.704 đồng và lãi quá hạn từ ngày 31/07/2023 đến ngày hôm nay 4.814.472 đồng, bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 08/6/2024 đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Huỳnh Thị Ánh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 01/06/2017, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, giữa Ngân hàng TMCP S với bà Huỳnh Thị Ánh T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định bà Huỳnh Thị Ánh T có vay tiền của Ngân hàng bằng hình thức cấp thẻ tín dụng, hạn mức 10.000.000đ, lãi suất 31,2%/tháng. Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ và quá trình giải quyết vụ án, bà T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc bà T phải trả cho Ngân hàng 15.972.176 đồng, trong đó nợ gốc 11.157.704 đồng và lãi quá hạn từ ngày 31/07/2023 đến ngày 07/6/2024 là 4.814.472 đồng, bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 08/6/2024 đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền phải trả là 15.972.176đ x 5% = 798.600đ (Bảy trăm chín mươi tám ngàn, sáu trăm đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Huỳnh Thị Ánh T về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bà Huỳnh Thị Ánh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S 15.972.176 đồng, trong đó nợ gốc 11.157.704 đồng và lãi quá hạn đến ngày 07/6/2024 là 4.814.472 đồng.
Bà T còn phải tiếp tục trả lãi, phí từ ngày 08/6/2024 trên nợ gốc đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 01/6/2017.
2. Án phí:
- Bà Huỳnh Thị Ánh T phải nộp 798.600đ (Bảy trăm chín mươi tám ngàn, sáu trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu tiền số 00010128 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/6/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Trí Thức |
Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 24/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sacombank - Tuyết - T/c HĐ tín dụng
