Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DS-ST

Ngày: 07 - 05 - 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Tới

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thanh Tuyền

2. Ông Phạm Ngọc Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thư, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng dân sự góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1961, (có mặt), chị Phạm Thị Y, sinh năm 1977 (có mặt), chị Phạm Thị L, sinh năm 1996, (có mặt), chị Võ Thị P, sinh năm 1962, (có mặt), chị Võ Thị Ư, sinh năm 1953 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang

- Bị đơn: Võ Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt), chị Lâm Thị T1, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn:

- Chị Lê Thị M trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 20/6/2021 Âl chị T1 và anh T có mở dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 01 lần, gồm 32 phần. Chị tham gia 01 phần và đã góp được 24 lần bằng 48.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi. Sau khi úp hụi, chị T1 có hứa đến tháng 10/2023 trả lại cho chị, nhưng chị T1 không thực hiện. Yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 48.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị M yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 48.000.000 đồng.

- Chị Phạm Thị Y trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 16/01/2022 chị T1 và anh T có mở dây hụi 500.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 02 lần, gồm 45 phần. Chị tham gia 01 phần và đã góp được 38 lần bằng 19.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi. Sau khi úp hụi, chị T1 có hứa đến tháng 10/2023 sẻ trả lại cho chị 19.000.000 đồng, nhưng chị T1 không thực hiện. Yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 19.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị Y yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 19.000.000 đồng.

- Chị Phạm Thị L trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 04/8/2022 chị T1 và anh T có mở dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 01 lần, gồm 34 phần. Chị tham gia 01 phần và đã góp được 11 lần bằng 22.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi. Yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 22.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị L yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 22.000.000 đồng.

- Chị Võ Thị P trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 08/4/2022 Âl chị T1 và anh T có mở dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 01 lần, gồm 34 phần. Chị tham gia 01 phần và đã góp được 11 lần bằng 22.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi và tự ý trừ tiền cò 1.000.000 đồng, còn lại 21.000.000 đồng;

Ngày 09/11/2021 Âl chị T1 và anh T có mở dây hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 01 lần, gồm 35 phần. Chị tham gia 01 phần và đã góp được 19 lần bằng 19.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi và tự ý trừ tiền cò 500.000 đồng, còn lại 18.500.000 đồng;

Ngày 16/01/2022 Âl chị T1 và anh T có mở dây hụi 500.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 02 lần, gồm 45 phần. Chị tham gia 02 phần và đã góp được 38 lần bằng 38.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi và tự ý trừ tiền cò 500.000 đồng, còn lại 37.500.000 đồng. Tổng cộng là 77.000.000 đồng.

Sau khi úp hụi, chị T1 có làm biên nhận và hứa trả dần, nhưng chị T1 không thực hiện. Yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 77.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị P Yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 77.000.000 đồng.

- Chị Võ Thị Ư trình bày và yêu cầu như sau: Ngày 20/6/2021 Âl chị T1 và anh T có mở dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khi hụi 01 lần, gồm 32 phần. Chị tham gia 1/2 phần và đã góp được 24 lần bằng 24.000.000 đồng thì chị T1 công bố là bể hụi, úp hụi. Yêu cầu chị T1, anh T trả cho chị 24.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị U xin vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lâm Thị T1 và anh Võ Văn T vắng mặt nên không có lời trình bày.

- Kiểm sát viên phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện chưa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của các nguyên đơn. Buộc chị T1 và anh T cùng trả nợ cho cho các nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn chị Lâm Thị T1 và anh Võ Văn T thực hiện chưa đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự (vắng mặt), nên được xác định vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 19/03/2024 chị U nộp đơn xin vắng mặt; ngày 22/03/2024 Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tống đạt hợp lệ cho chị T1, anh T nhưng chị T1, anh T vắng mặt lần thứ nhất không lý do, Hội đồng xét xử Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho chị T1, anh T nhưng chị T1, anh T vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Ư, chị T1, anh T theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp: Trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày và yêu cầu của các nguyên đơn. Hội đồng xét xử xác định mối quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi.

[3] Về nội dung tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của các nguyên đơn thấy rằng: Vào năm 2021 và năm 2022 chị T1, anh T có mở nhiều dây hụi, có lập danh sách của những người tham gia góp hụi. Trong đó, chị M, chị Y, chị L, chị P, chị Ư có tên trong danh sách người tham gia góp hụi. Danh sách hụi có ghi tên T1 và tên T. Việc chị T1, anh T không tham gia giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử cho là chị T1 và anh T từ bỏ việc tự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh chị, đồng thời là mặc nhiên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Do vậy yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 23, Điều 25 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Buộc chị Lâm Thị T1, anh Võ Văn T trả cho chị chị Lê Thị M 48.000.000 đồng, trả cho chị Phạm Thị Y 19.000.000 đồng, trả cho chị Phạm Thị L 22.000.000 đồng, trả cho chị Võ Thị P 77.000.000 đồng, trả cho chị Võ Thị Ư 24.000.000 đồng tiền hụi.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc chị Lâm Thị T1 và anh Võ Văn T chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 9.500.000 đồng. Chị Lê Thị M, chị Phạm Thị Y, chị Phạm Thị L, chị Võ Thị P, chị Võ Thị Ư không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Lê Thị M, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005099 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh

Hoàn trả lại 475.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Phạm Thị Y, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005104 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh

Hoàn trả lại 550.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Phạm Thị L, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005107 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh

Chị Võ Thị P được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nên không phải hoàn trả lại.

Chị Võ Thị Ư được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nên không phải hoàn trả lại.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 173 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 23, Điều 25 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị M, chị Phạm Thị Y, chị Phạm Thị L, chị Võ Thị P, chị Võ Thị Ư.

Buộc chị Lâm Thị T1, anh Võ Văn T trả cho chị Lê Thị M 48.000.000 đồng, trả cho chị Phạm Thị Y 19.000.000 đồng, trả cho chị Phạm Thị L 22.000.000 đồng, trả cho chị Võ Thị P 77.000.000 đồng, trả cho chị Võ Thị Ư 24.000.000 đồng tiền hụi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc chị Lâm Thị T1 và anh Võ Văn T chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 9.500.000 đồng. Chị Lê Thị M, chị Phạm Thị Y, chị Phạm Thị L, chị Võ Thị P, chị Võ Thị Ư không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Lê Thị M, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005099 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh

Hoàn trả lại 475.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Phạm Thị Y, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005104 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh

Hoàn trả lại 550.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho chị Phạm Thị L, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005107 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh

Chị Võ Thị P và chị Võ Thị Ư được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nên không phải hoàn trả lại.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị Lê Thị M, chị Phạm Thị Y, chị Phạm Thị L, chị Võ Thị P, chị Võ Thị Ư có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; chị Lâm Thị T1, anh Võ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh KG;
  • - VKSND huyện AM
  • - Chi cục THADS huyện AM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trần Văn Tới

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger