|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 06/06/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nam Văn
Ông Trịnh Tiến Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST - HS ngày 13 tháng 05 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXX-HSST ngày 27 tháng 05 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Văn C; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 15/06/1978, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Con ông Trần Văn K (đã chết) và bà Phạm Thị M (đã chết); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư; Có vợ Lê Thị T, sinh năm: 1980 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2000 con nhỏ nhất sinh năm 2017;Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024, đến ngày 05/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
2. Vũ Văn C1; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 09/02/1986, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Vũ Văn H và bà Lê Thị T1; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1987(đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2011 ( đang ở với mẹ); Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 05 tháng 08 năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến ngày 12 tháng 08 năm 2020 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024, đến ngày 05/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Ông Phạm Văn T2 - sinh năm 1960
- Ông Phạm Lê T3 - sinh năm 1964
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, Thanh Hóa.
- Bà Lê Thị T1 - sinh năm 1958
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02 tháng 02 năm 2024, Trần Văn C dùng điện thoại di động của C nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen cũ đã qua sử dụng được gắn sim số 0367 964 987 gọi điện cho Vũ Văn C1, ở thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa gọi vào sim số 0965 814 930, hỏi Vũ Văn C1 “Em mua được ở đâu mua dùm cho anh cái” ( ý Trần Văn C hỏi Vũ Văn C1 mua được ma túy ở đâu không mua cho Trần Văn C một gói). Vũ Văn C1 hỏi lại Trần Văn C “ anh lấy nhiều không”, Trần Văn C trả lời “ anh có bốn trăm bảy có lấy được không”. Vũ Văn C1 nói với Trần Văn C: “ ra cánh đồng gần nhà Vũ Văn C1”. Sau đó Trần Văn C đi bộ ra điểm hẹn, gặp Vũ Văn C1, Trần Văn C đưa cho Vũ Văn C1 470.000 đồng, Vũ Văn C1 cầm tiền và đưa cho Trần Văn C 01 gói ma túy, bên ngoài được gói bằng ni lon màu đen tiếp đến là mảnh giấy có dòng kẻ bên trong chứa Heroine. Trần Văn C đi về gần đến nhà đang tìm chỗ sử dụng ma túy thì gặp tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy - Công an huyện H phối hợp với Công an xã T, huyện H đang làm nhiệm vụ, phát hiện Trần Văn C có biểu hiện nghi vấn, nên tổ công tác yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện Trần Văn C đang nắm giữ ở tay trái 01 gói ma túy. Trần Văn C khai nhận ma túy mua về nhằm mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, lực lượng Công an mời người chứng kiến, đưa Trần Văn C cùng vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 gói ma tuý, niêm phong ký hiệu M1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen cũ đã qua sử dụng được gắn sim số 0367 964 987, niêm phong ký hiệu M2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn C tại thôn T, xã T, huyện H, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Nguồn gốc số ma túy trên Trần Văn C khai nhận mua của Vũ Văn C1. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H, đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Vũ Văn C1. Quá trình làm việc Vũ Văn C1 đã đầu thú và khai nhận vừa bán ma túy cho Trần Văn C, tổ công tác thu giữ 01 điện thoại di động Nokia 150 màu xanh đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0965 814 930, niêm phong ký hiệu M3. Vũ Văn C1 xuống khu vực bếp lấy 01 túi ni lon mầu trắng, viền đỏ, bên trong đựng 16 gói ma túy, tự nguyện giao nộp, được niêm phong ký hiệu M4, Vũ Văn C1 giao nộp 470.000 đồng, là tiền bán ma túy cho Trần Văn C, được niêm phong ký hiệu M5.
Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Vũ Văn C1, quá trình khám xét Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Về số ma túy Vũ Văn C1 có để bán cho Trần Văn C và Vũ Văn C1 giao nộp, là do Vũ Văn C1 trên đường đi từ tỉnh Quảng Trị về quê ăn tết, khi xe dừng ăn cơm (Vũ Văn C1 không nhớ địa chỉ ở đâu) nhờ người đàn ông chạy xe ôm khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m70, đeo khẩu trang kín mặt mua 1.000.000 đồng được 01 gói ma tuý loại Heroine, vào khoảng 12 giờ ngày 01 tháng 02 năm 2024, Vũ Văn C1 về chia nhỏ ra 18 gói nhằm sử dụng, ai hỏi mua thì bán. Vũ Văn C1 sử dụng 01 gói, bán cho Trần Văn C 01 gói, còn lại 16 gói Vũ Văn C1 giao nộp cho lực lượng Công an huyện H .
Ngày 02 tháng 02 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã trưng cầu phòng K1, Công an tỉnh T giám định về số ma túy thu được. Bản kết luận giám định số: 535/KL-KTHS ngày 05 tháng 02 năm 2024 kết luận:
- Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,131g (không phẩy một ba một gam) loại: Heroine ( H).
- Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,016g (hai phẩy không một sáu gam) loại: Heroine ( Heroin) .
Trần Văn C và Vũ Văn C1 đều đồng ý với Kết luận giám định, không ai có ý kiến hay đề nghị gì .
Trần Văn C và Vũ Văn C1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận tội phù hợp với các tài liệu đã được điều tra, thu thập trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì màu trắng dán kín hoàn trả sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen cũ đã qua sử dụng được gắn sim số 0367 964 987 thu giữ của Trần Văn C; 01 điện thoại di động Nokia 150 màu xanh đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0965 814 930 thu giữ của Vũ Văn C1, hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để thi hành án theo quyết định của bản án. Số tiền 470.000 đồng đang nộp tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, chờ xử lý.
* Tại bản cáo trạng: 26/CT-VKSHL ngày 13/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Vũ Văn C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về các tội danh, điều luật nêu trên. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Vũ Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Vũ Văn C1.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Trần Văn C.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn C1 từ 36 tháng đến 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (02/02/2024).
Bị cáo Trần Văn C từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (02/02/2024).
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một phong bì ma túy đã niêm phong sau giám định. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0367964987 của Trần Văn C và 01 điện thoại NOKIA 150 màu đen cũ, đã qua sử dụng gắn sim số 0965814930 của Vũ Văn C1 và số tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) do phạm tội mà có.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng trên.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai báo và nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của những người chứng kiến, phù hợp với nội dung của các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 02/02/2024 tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra về tội phạm về kinh tế - Ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã kiểm tra, phạt hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn C về hành vi đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong 01 gói ni lon màu trắng có khối lượng 0,131g ( không phẩy một ba một gam) loại Heroin ở tay trái của Trần Văn C. Trần Văn C khai nhận đó là ma túy vừa mua trước đó của Vũ Văn C1 với giá 470.000đ nhằm mục đích để sử dụng. Quá trình làm việc, Vũ Văn C1 đã đầu thú và giao nộp ma túy có tổng khối lượng 2,106g (hai phẩy một không sáu gam) loại Heroin do Vũ Văn C1 đang tàng trữ nhằm mục đích để bán cho những người có nhu cầu sử dụng và số tiền 470.000đ do Vũ Văn C1 vừa bán ma túy cho Trần Văn C.
Như vậy, hành vi của Trần Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của Vũ Văn C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn Cường và Vũ Văn C1 đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội; hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải được xét xử nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Trong vụ án các bị cáo Trần Văn C và Vũ Văn C1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Trần Văn C và Vũ Văn C1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo Vũ Văn C1 đã đầu thú, tự nguyện giao nộp vật chứng và số tiền do phạm tội mà có nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Xét thấy đối với bị cáo Vũ Văn C1 có nhân thân xấu ngày 05 tháng 08 năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến ngày 12 tháng 08 năm 2020 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Do vậy, từ những nhận định trên, HĐXX cần lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt tù nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo. Song HĐXX cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo được hưởng để lượng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định. Do đó, HĐXX không áp dụng khoản 5 (Điều 249, Điều 251) Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng: HĐXX nhận thấy cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước vật, công cụ, phương tiện, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7]. Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các bị cáo tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, lời nói sau cùng của các bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp để các bị cáo chấp hành và cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân chấp hành pháp luật tốt. Đối với người chứng kiến: trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến.
[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn C và Vũ Văn C1 phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn C1.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn C.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn C1 36 (Ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (02/02/2024).
Bị cáo Trần Văn C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (02/02/2024).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định, ghi Phòng K1 Công an tỉnh T, có đóng dấu đỏ và ký tên (Nguyễn Văn N và Nguyễn Trần Đ); Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0367964987 của Trần Văn C và 01 (một) điện thoại NOKIA 150 màu xanh đen đã qua sử dụng gắn sim số 0965814830 của Vũ Văn C1. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/05/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi lập ngày 14/05/2024 tại kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Các bị cáo Trần Văn C và Vũ Văn C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
