Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DS-ST

Ngày: 06-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thiện;
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ A, khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Số H, đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; nơi thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Số H, đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đỗ Trường L, sinh năm 1962; địa chỉ: E, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H thống nhất trình bày:

Trước đây ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H và ông Đỗ Trường L là hàng xóm nên quen biết nhau. Do tin tưởng nhau nên từ ngày 03/6/2022 đến ngày 16/6/2022, vợ chồng ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H có cho ông Đỗ Trường L vay nhiều lần tiền với tổng số tiền là 520.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản từ tài khoản của ông Trần Văn Đ qua tài khoản của ông Đỗ Trường L và các bên không lập giấy tờ của từng lần vay. Cụ thể:

  • Ngày 03/6/2022 cho vay 45.000.000 đồng.
  • Ngày 04/6/2022 cho vay 25.000.000 đồng.
  • Ngày 06/6/2022 cho vay 130.000.000 đồng (chuyển khoản 03 lần, 02 lần 50.000.000 đồng và 01 lần 30.000.000 đồng).
  • Ngày 07/6/2022 cho vay 120.000.000 đồng (chuyển khoản 03 lần, 02 lần 50.000.000 đồng và 01 lần 20.000.000 đồng).
  • Ngày 08/6/2022 cho vay 50.000.000 đồng (chuyển khoản 02 lần, 01 lần 30.000.000 đồng và 01 lần 20.000.000 đồng).
  • Ngày 09/6/2022 cho vay 50.000.000 đồng.
  • Ngày 13/6/2022 cho vay 6.500.000 đồng.
  • Ngày 16/6/2022 cho vay 13.500.000 đồng.

Sau đó ông L mới lập giấy vay tiền để chốt lại tổng số tiền ông L vay của tôi. Theo giấy vay tiền thì các bên thống nhất tổng số tiền ông L vay của ông D và bà H là 520.000.000 đồng và ông L cam kết trả số tiền trên vào ngày 30/11/2022, thỏa thuận cho vay không có lãi suất. Tuy nhiên sau đó ông L chỉ trả cho tôi số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 30/3/2023 và ông Đ có lập 01 tờ biên nhận thể hiện có nhận của ông L số tiền 100.000.000 đồng, ông Đ có chụp hình lại, còn bản chính thì ông Lâm giữ.

Số tiền 520.000.000 đồng cho ông Đỗ Trường L vay là tài sản chung của vợ chồng ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị Hồng

Do đó, ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Trường L có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H số tiền nợ

vay gốc là 420.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 30/11/2022 cho đến khi Tòa án xét xử vụ án với mức lãi xuất là 0,83%/tháng trên số tiền nợ gốc 420.000.000 đồng.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh yêu cầu khởi kiện: Giấy vay tiền, Giấy nhận tiền và S phụ kiêm giấy báo nợ/có (sao kê tài khoản).

- Bị đơn ông Đỗ Trường L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông Đỗ Trường L đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên ông L đều vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

-Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Buộc ông Đỗ Trường L có trách nhiệm trả số tiền vay nợ gốc 420.000.000 đồng cho ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/11/2022 trên số tiền nợ gốc 420.000.000 đồng đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 0,83%/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H khởi kiện tranh chấp đối với ông Đỗ Trường L liên quan đến Hợp đồng vay tiền được ký kết giữa ông Đ, bà H với ông L. Theo giấy vay tiền nêu trên và biên bản xác minh ngày 22/01/2024, ông Đỗ Trường L có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ E khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhưng đã bán nhà, hiện đang cư trú đâu không rõ. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1.2] Bị đơn ông Đỗ Trường L được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt của bị đơn ông Đỗ Trường L trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; nguyên đơn ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo Giấy vay tiền được xác lập giữa ông Đỗ Trường L và ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H có nội dung ông Đỗ Trường L xác nhận từ ngày 03/6/2022 đến ngày 16/6/2022 ông Đỗ Trường L có vay của ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H với tổng số tiền 520.000.000 đồng, thời hạn trả số tiền trên là ngày 30/11/2022. Giấy vay tiền phù hợp với số tiền ông Trần Văn Đ chuyển qua tài khoản của ông Đỗ Trường L và phù hợp với lời khai của ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H về những lần, thời gian và số tiền từng lần cho ông Đỗ Trường L. Do đó, có cơ sở tổng số tiền Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H cho ông Đỗ Trường L vay là 520.000.000 đồng.

Theo giấy xác nhận ông L cung cấp, thể hiện ngày 30/3/2023 ông Đỗ Trường L có trả cho ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H số tiền 100.000.000 đồng và được ông Đ lập giấy xác nhận cho ông Đỗ Trường L.

Do đó, số tiền nợ gốc ông Đỗ Trường L còn nợ ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H là 420.000.000 đồng.

[2.2]. Theo Điều 463 của Bộ luật Dân sự quy định: Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

[2.3]. Mặt khác, theo Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2

Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

[2.4]. Điều 468 của Bộ luật Dân sự quy định:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

[2.5]. Giấy vay tiền giữa Đỗ Trường L còn nợ ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H không thể hiện việc các bên thỏa thuận lãi suất, các bên thỏa thuận thời hạn thanh toán số tiền 520.000.000 đồng vào ngày 30/11/2022. Tuy nhiên, đến ngày 30/3/2023 ông Đỗ Trường L mới trả cho ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H số tiền 100.000.000 đồng. Do đó ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Đỗ Trường L phải số tiền nợ gốc 420.000.000 đồng và trả tiền lãi trên số nợ gốc 420.000.000 đồng tính từ ngày 30/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi xuất 0,83%/tháng (tương đương 10%/năm) cho ông Đ và bà H là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu bị đơn ông Đỗ Trường L có trách nhiệm trả số tiền vay gốc 420.000.000 đồng và tiền lãi 59.959.200 đồng (17 tháng 06 ngày x 420.000.000 đồng x 0,83%/tháng) cho ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H.

[2.7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

[ 2.8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đỗ Trường L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự.
  • - Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H với bị đơn ông Đỗ Trường L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Đỗ Trường L có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H số tiền nợ gốc 420.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi triệu đồng) và 59.959.200 đồng (năm mươi chín triệu chín trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí sơ thẩm:

Ông Đỗ Trường L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 23.198.368 đồng.

Hoàn trả lại cho ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị H số tiền 11.515.500 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu tiền số 0001141 ngày 11/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thip hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ngọc K

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trần văn Đ - Đỗ trường L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger