Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DS-ST

Ngày 06 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Mễn

Bà Dư Thị Út

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tạ V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số C, đường T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Bà Tạ Ngọc G, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số A, hẻm E, đường T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Nhật L, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số C, đường T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Bà V, bà G, ông L có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 03/01/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Tạ V trình bày:

Vào ngày 10/7/2020 AL, bà Tạ V và chồng là ông Trần Nhật L có cho bà Tạ Ngọc G mượn số tiền là 70.000.000 đồng, bà Giàu c tự viết biên nhận đề ngày 10/7/2020 và ký tên ghi rõ họ và tên, bà Giàu c cam kết sẽ trả góp mỗi ngày là 2.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Khi vay thì các bên không có thỏa thuận lãi suất gì, chỉ thỏa thuận trả góp hằng ngày.

Quá trình thanh toán bà G chỉ trả được 11 ngày, mỗi ngày trả 2.000.000 đồng với số tiền là 22.000.000 đồng, sau đó bà G tiếp tục hỏi mượn lại 22.000.000 đồng đã trả (mượn cộng dồn lại) nên số tiền bà G vẫn còn nợ là 70.000.000 đồng và có hứa vài ngày sẽ thanh toán một lần nhưng bà G cứ hứa mà không thực hiện đúng.

Đến ngày 07/01/2021 AL bà G tiếp tục đến gặp vợ chồng bà V và ông L để hỏi vay thêm số tiền là 35.000.000 đồng để bà G làm sổ đỏ và có hứa khi nào làm xong sổ đỏ sẽ trả hết 02 khoản vay, các bên có lập biên nhận đề ngày 07/01/2021 nhưng phía bà G cứ hứa hẹn hoài mà không thanh toán cho vợ chồng bà. Sau đó khoản 01 năm sau vợ chồng bà có nộp đơn khởi kiện ra Tòa án thành phố B (Tòa án chưa có thụ lý) thì bà Giàu c gặp vợ chồng bà để thỏa thuận mỗi ngày góp cho vợ chồng bà 250.000 đồng cho khoản vay 35.000.000 đồng, khi nào góp xong thì sẽ góp tiếp số tiền 70.000.000 đồng theo nội dung tờ giấy trả nợ cho vợ chồng anh L đề ngày 06/12/2021 AL do phía bà G tự ghi và đưa cho vợ chồng bà. Tuy nhiên bà G góp không liên tục có ngày đóng ngày không, vợ chồng bà có theo dõi trong sổ và cộng dồn lại được là 32.000.000 đồng.

Tại đơn khởi kiện bà Tạ V yêu cầu bà Tạ Ngọc Giàu c1 trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ vay là 73.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án bà Tạ V xác định khoản tiền cho bà G vay là tiền chung của vợ chồng bà với ông Trần Nhật L nên nay bà yêu cầu cá nhân bà G phải có trách nhiệm trả cho bà và ông L số tiền là 73.000.000 đồng và tiền lãi chậm trã trong giai đoạn thi hành án.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 01/3/2024 và trong quá trình tố tụng tại Toà, bà Tạ Ngọc G là bị đơn trong vụ án trình bày: Bà G thừa nhận có vay tiền của vợ chồng ông L, bà V. Ông L là người trực tiếp đưa số tiền cho bà, cụ thể: Vào ngày 10/7/2020 AL bà Giàu c1 vay tiền của vợ chồng ông L, bà V số tiền là 70.000.000 đồng, hình thức là trả góp hàng ngày, mỗi ngày bà trả tiền cho vợ chồng ông L, bà V là 2.100.000 đồng, tổng cộng bà trả 40 ngày. Tổng số tiền là 84.000.000 đồng (trong đó 70.000.000 đồng là tiền vốn, 14.000.000 đồng là tiền lãi). Đối với khoản vay tiền này thì bà đã góp xong cho phía vợ chồng ông L.

Tiếp đến ngày 07/01/2021 AL bà có vay thêm của vợ chồng ông L, bà V số tiền là 35.000.000 đồng, mỗi ngày góp 250.000 đồng, tuy nhiên do ảnh hưởng dịch bệnh Covid -19 nên bà thường xuyên đóng không đúng hạn, có ngày đóng, có ngày không đóng, có khi cộng dồn mấy ngày đóng 1 lần. Sau đó, bà V thừa nhận có ký vào Tờ giấy trả nợ cho vợ chồng anh L đề ngày 06/12/2021 AL, theo nội dung giấy trả nợ thì đối với khoản vay 35.000.000 đồng phía vợ chồng ông L, bà V yêu cầu trả thêm 15.000.000 đồng tiền lãi nữa, tổng cộng là 50.000.000 đồng, nhưng bà có xin phía vợ chồng ông L, bà V cho bà trả trước số tiền 35.000.000 đồng (tiền gốc), khi nào góp xong đủ 35.000.000 đồng thì bà mới góp tiếp số tiền lãi 15.000.000 đồng. Tuy nhiên bà chỉ mới đóng được số tiền là 32.000.000 đồng, còn nợ lại vợ chồng ông L bà G là 3.000.000 đồng.

Bà G xác định đối với biên nhận mượn tiền đề ngày 10/7/2020 AL bà đã trả cho vợ chồng ông L, bà V xong và bà có yêu cầu được nhận lại tờ biên nhận để tiêu hủy nhưng ông L, bà V cứ hứa hẹn hoài mà không đưa lại cho bà. Nay bà thừa nhận có vay của bà V, ông L 02 lần tổng cộng là 105.000.000 đồng, tuy nhiên đối với biên nhận 70.000.000 đồng bà đã trả xong; Biên nhận 35.000.000 đồng thì bà đã trả được 32.000.000 đồng. Nay bà chỉ đồng ý trả cho vợ chồng ông L, bà V số tiền là 3.000.000 đồng, không yêu cầu gì khác.

* Tại phiên tòa:

Các đương sự vẫn giữ nguyên lời trình bày trước đây, bà V và ông L xác định chỉ yêu cầu một mình bà G trả nợ không có yêu cầu gì đối với chồng bà G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tạ V đối với bà Tạ Ngọc G, buộc bà Giàu c1 trách nhiệm trả cho bà V và ông L số tiền vốn là 51.000.000 đồng; không chấp nhận số tiền 22.000.000 đồng. Bà vân và bà G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Bà Tạ V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Tạ Ngọc G trả nợ vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Giàu có nơi cư trú hiện tại ở Số A, hẻm E, đường T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Tại giấy trả nợ đề ngày 06/12/2021 bà Giàu có cam kết trả nợ cho ông L, bà V, tính đến ngày khởi kiện là chưa hết 03 năm nên căn cứ Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn còn thời hiệu khởi kiện.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Tạ V, thấy rằng:

[3.1] Vào ngày 10/7/2020 AL, vợ chồng bà V và ông L có cho bà Tạ Ngọc G mượn số tiền là 70.000.000 đồng, bà Giàu c1 tự viết “Mượn tiền đề ngày 10/7/2020” và ký tên ghi rõ họ và tên. Ngày 07/01/2021 AL bà G tiếp tục vay của vợ chồng bà V và ông L số tiền là 35.000.000 đồng, bà Tạ Ngọc G đã viết “Giấy vay tiền đề ngày 07/01/2021”, đối với hai lần vay này đều không thoả thuận lãi suất mà chỉ thoả thuận trả góp. Bà G cũng thừa nhận có diễn ra việc vay tiền như trên và có ký kết vào “Giấy trả nợ đề ngày 06/12/2021”, được giao cho vợ chồng ông L, bà V giữa. Ngoài ra, các đương sự đều thống nhất là sau khi làm “Giấy trả nợ đề ngày 06/12/2021” thì bà G đã trả cho bà V số tiền 32.000.000 đồng còn nợ lại tiền gốc của khoản vay này là 3.000.000 đồng. Như vậy đây là các tình tiết đã được các đương sự thừa nhận nên Hội đồng xét xử có cở sở chấp nhận.

[3.2] Xét về số tiền vốn vay thấy rằng: Phía nguyên đơn có trình bày đối với giao dịch ngày 10/7/2020 AL thì sau khi cho vay số tiền 70.000.000 đồng thì bà Giàu có trả được một phần bằng hình thức góp mỗi ngày là 2.000.000 đồng, trả 11 ngày với số tiền là 22.000.000 đồng, tuy nhiên sau đó bà G đã vay lại số tiền 22.000.000 đồng nên số tiền vốn vay trở thành 70.000.000 đồng như ban đầu, tuy nhiên bà V và ông L không có tài liệu chứng cứ gì về việc cho vay thêm số tiền 22.000.000 đồng trong khi bà G không thừa nhận tình tiết này nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận ý kiến này. Như vậy, có cơ sở xác định vợ chồng bà V và ông L có cho bà G vay tổng số tiền là 105.000.000 đồng.

[3.3] Về việc thanh toán nợ thấy rằng: Bà G xác định đã góp trong 40 ngày với số tiền 2.100.000 đồng/ngày là 84.000.000 đồng nên đã thanh toán hết khoản nợ 70.000.000 đồng cho vợ chồng bà V nhưng không có tài liệu chứng minh. Ngoài ra xét Giấy trả nợ (cho vợ chồng anh L) đề ngày 06/12/2021 có thể hiện nội dung: “Tôi có mượn Anh L 35.000.000 (ba mươi lăm triệu). Tôi hứa trả ngày 250.000 cho đến hết số tiền là 35.000.000 tôi sẽ trả thêm tiền lãi suất cho anh. Hết phần này, tôi trả tiếp theo 70.000.000 phần 70.000.000 tiền góp còn cận lại tôi sẽ góp tiếp.”

[3.4] Mặc dù bà G trình bày nội dung này bà không ghi nhưng bà thừa nhận có ký vào Giấy trả nợ này và thực tế bà G đã góp đúng theo Giấy trả nợ này là mỗi ngày 250.000 đồng được tổng số tiền là 32.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận nội dung Giấy nhận nợ này. Thấy rằng, bà G trình bày đã thanh toán hết khoản nợ của số tiền 84.000.000 đồng nhưng tại thời điểm viết giấy trả nợ ngày 06/12/2021 thì bà lại xác định là sau khi trả hết khoản nợ 35.000.000 đổng sẽ trả tiếp theo 70.000.000 đồng tiền góp còn cận nên sự trình bày này của bà G là có sự mâu thuẫn với nhau nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận ý kiến này của bà. Tuy nhiên, ông L và bà V thừa nhận có nhận số tiền 22.000.000 đồng của bà G đã góp cho khoản vay này và 32.000.000 đồng khoản vay 35.000.000 đồng như như trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc bà Giàu có thanh toán cho vợ chồng bà V, ông L tổng số tiền vốn gốc là 54.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà V đối với bà G với số tiền vốn gốc là 51.000.000 đồng, không chấp nhận số tiền vốn gốc 22.000.000 đồng.

[3.5] Đối với tiền lãi: Do bà V, ông L trong vụ án chỉ yêu cầu trả tiền vốn nên không đặt ra xem xét.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm:

[4.1] Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận với số tiền 22.000.000 đồng nên bà V phải chịu án phí là 1.100.000 đồng. Bà V đã nộp tiền tạm ứng án phí 1.825.000 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002325 ngày 15/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, được đối trừ và được hoàn lại 725.000 đồng.

[4.2] Bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.550.000 đồng.

[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tạ V đối với bà Tạ Ngọc G về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

    Buộc bà Tạ Ngọc Giàu c1 trách nhiệm trả cho bà Tạ V và ông Trần Nhật L số tiền vốn vay là 51.000.000 đồng (Năm mươi mốt triệu đồng).

    Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ V đối với bà Tạ Ngọc G về việc yêu cầu bà G trả số tiền vốn vay là 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Tạ V phải chịu án phí là 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm ngàn đồng). Bà V đã nộp tiền tạm ứng án phí 1.825.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002325 ngày 15/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, được đối trừ và được hoàn lại 725.000 đồng.
    • - Bà Tạ Ngọc G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
  3. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • -VKSND Tp. Bạc Liêu;
  • -CCTHADS Tp. Bạc Liêu;
  • -Đương sự;
  • -Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 24/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ V - Tạ Ngọc G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger