Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 24/2024/HS-PT

Ngày: 04/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Đậu Thị Quy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 29/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Nông. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ, con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963. Có vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 15/8/2019, bị Công an huyện S xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000đ về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật, chưa chấp hành nộp phạt. Nhân thân: Ngày 15/3/2022, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện S khởi tố, điều tra về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản quy định tại Khoản 1, Điều 232 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
  2. Đặng Mộng C, sinh năm 1983 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Nông. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Đặng G, sinh năm 1955 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1958. Có vợ tên Huỳnh Thị D1, sinh năm 1987 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 27/8/2019, bị Toà án nhân dân huyện Sơn Hoà tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự, chưa chấp hành xong thời gian thử thách. Nhân thân: Ngày 20/4/2005, bị Toà án nhân dân huyện Sơn Hoà tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/3/2006. Ngày 24/7/2008, bị Toà án nhân dân huyện Sơn Hoà tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2009. Ngày 15/8/2019, bị Công an huyện S xử phạt hành chính 3.000.000₫ về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật, chấp hành nộp phạt ngày 30/10/2019. Ngày 03/7/2023, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện S khởi tố về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự. Ngày 07/7/2023, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện S khởi tố bổ sung về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm d, Khoản 4, Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác từ ngày 04/7/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Có mặt tại phiên tòa.
  3. Hồ C (tên gọi khác: Cu B), sinh năm 1998 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Nông. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Hồ Công T2, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1975. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D: Ông Nguyễn Hương Q, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, Văn phòng L2; địa chỉ: C M, phường E, Tp T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1979, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Nguyễn Quang T5, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  3. Bùi Hoài A, sinh năm 1987, nơi cư trú: KP Đ, TT P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  4. Kpă Y D2, sinh năm 1996, nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  5. Y S, sinh năm 1998, nơi cư trú: Buôn H, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  6. Võ Ngọc T6, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  7. Huỳnh Ngọc D3, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  8. Trần Quang D4, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  9. Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  10. Phạm Đình H1, sinh năm 1970, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  11. Nguyễn Nhật D5, sinh năm 1997, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  12. Nguyễn Văn S1, sinh năm 1999, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  13. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn T7, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1988, nơi cư trú: nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  3. Lê Ngọc T8, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  4. Hồ Nam K, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho cháu K: Ông Hồ Nhất V, sinh năm 1981, bà Nguyễn Thị Bích T9, nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 09/02/2021, Công an xã H nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực quán C1 của ông Lê Văn D6 thuộc thôn P, xã H, huyện P có người đốt pháo. Ông Bùi Hoài A (Phó Trưởng Công an xã) mặc thường phục đến vị trí đốt pháo để xác minh nguồn tin, thấy ông Nguyễn Xuân T4 (Chỉ huy trưởng quân sự xã H) đang nói chuyện với Nguyễn Văn M về việc T4 nhìn thấy M là người đốt pháo còn M không thừa nhận. Ông A yêu cầu T4M đi về, không gây mất trật tự nhưng M không chịu mà nói “mấy ông có thấy tui đốt pháo hay không mà nói tui đốt, tui còn mấy chục viên tối nay đốt luôn, mấy ông làm gì được tui. Lúc này, ông A đi về trụ sở Công an xã, báo cáo và đề xuất bằng văn bản với ông Nguyễn Văn T7 – Chủ tịch UBND xã H và ông T7 phân công ông Bùi Hoài A (là Phó Trưởng Công an xã), Kpă Y D2 (là công an viên), Nguyễn Quang T5 (là Phó Chỉ huy trưởng), Y S (là Dân quân thường trực), Võ Ngọc T6 (là Thanh niên xung kích xã) đến giải quyết việc đốt pháo nêu trên. Tổ công tác đến nơi xảy ra vụ đốt pháo lập biên bản sự việc và đi tìm M để mời về Công an xã làm việc. Khi đến khu vực Trường Tiểu học xã H thuộc thôn P, Tổ công tác gặp, mời M về Công an xã nhưng M không chấp hành mà có hành vi chửi bới, nói “mấy ông có thấy tôi đốt pháo hay không mà mời tôi, tao không đi, thằng nào đụng tao, tao chém” và xô đẩy lực lực Tổ công tác. Lúc này, ông T4T5 vào khống chế M thì M dùng tay xô đẩy làm ông T4 ngã xuống đường, M ôm vật ông T5 ngã xuống đường và có lời lẽ chửi bới các thành viên trong Tổ công tác. Thấy vậy, ông A dùng khoá số 8 còng vào tay phải của M thì Hồ Công D đứng gần đó chạy đến dùng tay đánh 01 cái trúng vào mũ bảo hiểm của ông T5 đang đội trên đầu làm ông T5 ngã nhào về phía trước nhưng không gây thương tích gì, M thấy vậy dùng tay trái chụp lấy cổ áo của ông T5 làm khẩu trang của ông T5 đang đeo trên mặt rơi xuống đường, còn D đi đến quán của bà Nguyễn Thị L1 lấy 01 con dao để tiếp tục đánh ông T5 và chống đối Tổ công tác nhưng được mọi người can ngăn. Lúc này, Đặng Mộng C cũng đến xô đẩy, dùng tay đánh 01 cái vào vùng bụng và vùng mặt bên trái của ông T5 nhưng không gây thương tích gì và chửi bới ngăn cản không cho Tổ công tác mời Mùi về làm việc dẫn đến Tổ công tác không thi hành được nhiệm vụ giải quyết vụ đốt pháo trái phép trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 29/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên xử: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Áp dụng thêm Điểm i, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn M, Hồ Công D. Áp dụng thêm Điểm h, Khoản 1, Điều 52; Điều 56; Khoản 5, Điều 65 đối với bị cáo Đặng Mộng C.

Xử phạt: -Bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Đặng Mộng C 01 (một) năm tù. Tổng hợp Hình phạt 01 năm 03 tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, buộc bị cáo Đặng Mộng C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Hồ Công D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Vào các ngày 31/7/2023 và 02/8/2023, các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D đều có đơn kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên, các bị cáo đều thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, riêng các bị cáo M, D còn xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự - Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D là Luật sư Nguyễn Hương Q trình bày: Các bị cáo M, C học vấn thấp nên trình độ nhận thức pháp luật hạn chế. Tại phiên tòa, các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân nên thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho các bị cáo M, C, D và cho bị cáo D được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra (Bút lục 67-71, 118, 120, 133, 151 – 155), phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Ngọc D3, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Xuân T4, Bùi Hoài A, Nguyễn Quang T5, Y S, Võ Ngọc T6 và lời khai những người làm chứng Lê Ngọc T8, Hồ Nam K, Nguyễn Văn T7, Phạm Ngọc Đ, phù hợp với vật chứng thu giữ là 01 con dao dài 24cm và 02 đoạn video ghi lại hành vi của các bị cáo tại hiện trường, kết luận giám định, các biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 09/02/2021, khi Tổ công tác của UBND xã H gồm Bùi Hoài A (Phó Trưởng Công an xã H), Kpă Y D2 (Công an viên xã H), Nguyễn Xuân T4 (Chỉ huy trưởng quân sự xã H), Nguyễn Quang T5 (Chỉ huy phó quân sự xã H), Y S (Dân quân thường trực xã H), Võ Ngọc T6 (Thanh niên xung kích xã H) đi tìm mời Nguyễn Văn M về trụ sở Công an xã H để làm rõ sự việc đốt pháo trái phép thì Mùi chửi bới, đe doạ dùng vũ lực và có lời lẽ thách đố “mấy ông có thấy tui đốt pháo hay không mà mời tui, tao không có đi, thằng nào đụng vào tao, tao chém”, đồng thời né tránh không chấp hành và có hành vi xô đẩy Bùi Hoài A, Nguyễn Xuân T4 về phía sau. Lúc này, lực lượng Tổ công tác áp sát để đưa M về Trụ sở Công an xã thì M xô ngã ông T4, quật ngã và chụp cổ áo ông Nguyễn Quang T5 để chống đối lại lực lượng đang thực thi nhiệm vụ. Hồ C dùng tay phải đánh trúng vào đầu ông T5 rồi đi tìm, lấy 01 con dao dài khoảng 24cm để nhằm tiếp tục đánh ông T5 và chống đối lại lực lượng Tổ công tác thì được mọi người can ngăn. Đặng Mộng C cũng đến xô đẩy, dùng tay đánh trúng vào bụng và mặt ông T5, đồng thời chửi bới, ngăn cản không cho những thành viên trong Tổ công tác mời M về Trụ sở Công an xã để làm việc dẫn đến Tổ công tác không thi hành được công vụ. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1, Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tôi.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an - an toàn xã hội tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo, xem xét tiền án, tiền sự, nhân thân, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo và xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù, bị cáo Đặng Mộng C 01 (một) năm tù, bị cáo Hồ Công D 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo M, C, D đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Đối với bị cáo Hồ Công D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng chính sách hình sự quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355; Điểm c, e Khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Mộng C, Hồ Công D – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Điều 330; Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D. Áp dụng thêm Điểm i, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Hồ Công D. Áp dụng thêm Điểm h, Khoản 1, Điều 52; Điều 56; Khoản 5, Điều 65 đối với bị cáo Đặng Mộng C. Áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Công D.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Bị cáo Đặng Mộng C 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, buộc bị cáo Đặng Mộng C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Bị cáo Hồ Công D 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Hồ Công D cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời hạn thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn M, Đặng Mộng C, Hồ Công D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND h. Phú Hòa (2);
  • - CQ CSĐT Công an h. Phú Hòa;
  • - VKSND h. Phú Hòa;
  • - NTG Công an h. Sơn Hòa;
  • - CQ THTT, P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Võ Nguyên Tùng

Trần Minh Quang

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-PT ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 24/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSPT - M và C và D - Chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger