Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 02/5/2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Phương
  • Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng và Bà Quách Thị Thu Hương .
  • Thư ký phiên toà: ông Phạm Quang Minh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, T sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/ 2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Lâm Huyền T, sinh năm 1986; Nơi cư trú : số nhà G, ngõ B đường T, phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
  • - Bị đơn: Anh Đỗ Trung V, sinh năm 1988; nơi cư trú : số nhà G, ngõ B đường T, phố P, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

(Tại phiên tòa có mặt chị T, vắng mặt anh V không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, lời khai của chị Vũ Lâm Huyền T thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Trung V được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 30/6/2020 tại Ủy ban nhân dân phường T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế khiến cho vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh V có những lời lẽ xúc phạm chị và gia đình chị, lại có hành vi sử dụng bạo lực đối với chị, nên tháng 01 năm 2023 chị đã dọn về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Kể từ đó cho đến nay, vợ chồng chị ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Trung V.

Về con chung: Chị và anh Đỗ Trung V không có con chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Trong đơn khởi kiện, chị Vũ Lâm Huyền T đề nghị Toà án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng chị là : khoản nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền nợ gốc tính đến tháng 10 năm 2023 là 236.910.000 đồng, chị và anh V đang sống ly thân. Từ tháng 2 năm 2023 đến tháng 10 năm 2023, chị T đã trả cho Ngân hàng được 12.200.000 đồng và anh V trả được 7.000.000 đồng tiền lãi vay ngân hàng, chị đề nghị chia đôi tài sản chung là giá trị quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà diện tích 70,6m2 tại thửa số 191 tờ bản đồ số 44 tại ngõ B đường T phố P phường B thành phố N tỉnh Ninh Bình và chia đôi công nợ chung có tính phần chênh lệch chị T đã trả từ tháng 2 năm 2023 đến nay.

Tuy nhiên, trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, chị Vũ Lâm Huyền T đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung và công nợ chung. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Toà án đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung, công nợ chung khi ly hôn đối với vụ án này.

Bị đơn là anh Đỗ Trung V trong bản tự khai trình bày: Năm 2018, anh V và chị T quen biết nhau. Đến năm 2020, anh và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T thảnh phố N. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn; mối quan hệ giữa hai vợ chồng với hai bên gia đình nội, ngoại đều tốt. Khi chị T ốm, anh V đã hết lòng quan tâm, chăm sóc. Tuy nhiên, do những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình anh và chị T đã phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn được .

Về con chung : anh V thừa nhận anh và chị T không có con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung : anh và chị T có một căn nhà tại địa chỉ số nhà G, ngõ B, Triệu Việt V1, thành phố N. Về nợ chung : anh và chị T có khoản nợ 250.000.000 đồng vay trả góp khi làm nhà.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều được đảm bảo theo quy định của luật tố tụng dân sự. Đương sự được đảm bảo quyền và nghĩa vụ đúng luật định, Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành; việc tống đạt và gửi các văn bản tố tụng đúng thời hạn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình không có ý kiến gì.

Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Lâm Huyền T. Xử ly hôn giữa chị Vũ Lâm Huyền T và anh Đỗ Trung V;

Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thẩm quyền giải quyết : Chị Vũ Lâm Huyền T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Đỗ Trung V, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có nơi cư trú tại phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về tố tụng: Tại phiên toà nguyên đơn có mặt, bị đơn là anh Đỗ Trung V đã được Toà án thực hiện các thủ tục niêm yết theo quy định của pháp luật, nhưng vắng mặt tại phiên toà ngày 15/4/2024, đến phiên toà này vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành phiên toà xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự .
  3. [2] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Lâm Huyền T và anh Đỗ Trung V được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình vào ngày 30/6/2020; hôn nhân giữa chị T và anh V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Vợ chồng anh chị chung sống thuận hoà, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do chị Vũ Lâm Huyền T xin ly hôn anh Đỗ Trung V là do những mâu thuẫn về kinh tế, anh V thường xuyên dùng lời lẽ xúc phạm danh dự và nhân phẩm của chị T, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh V có lần đánh chị; chị và anh V ly thân đã lâu tình cảm nguội lạnh nên chị làm đơn xin ly hôn anh V.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình đã tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn và quá trình chung sống của chị T và anh V tại chính quyền địa phương, thì được cung cấp : chị Vũ Lâm Huyền T và anh Đỗ Trung V là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND phường T thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình và có cư trú tại số nhà G, ngõ B, đường T, phố P, phường B, thành phố N. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống cùng nhau tại địa chỉ trên. Quá trình chung sống giữa chị T và anh V có xảy ra mâu thuẫn còn nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được do chị T và anh V không báo chính quyền địa phương để hoà giải. Chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định của pháp luật.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định : “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, chị T và anh V khi bước vào hôn nhân đã tự nguyện xây dựng cuộc sống gia đình. Nhưng với trách nhiệm của người chồng trong gia đình, anh V đã không vun đắp và xây dựng cho gia đình thuận hòa, hạnh phúc. Vợ chồng tuy sống chung nhà, nhưng không có quan hệ tình cảm, không có sự tôn trọng nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Vũ Lâm Huyền T và anh Đỗ Trung V không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong bản tự khai, anh V biết việc mâu thuẫn vợ chồng là không thể hàn gắn, do vậy từ khi biết chị T nộp đơn xin ly hôn ra Toà án, anh V cũng không có động thái gì hàn gắn quan hệ vợ chồng. Nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T xin ly hôn anh Đỗ Trung V.

  1. [3] Về con chung: chị Vũ Lâm Huyền T và anh Đỗ Trung V không có con chung nên không đề nghị Toà án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này.
  2. [4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Vũ Lâm Huyền T đã rút yêu cầu khởi kiện đối với việc chia tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
  3. [5] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Vũ Lâm Huyền T phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự ; các Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Lâm Huyền T về việc “Ly hôn” đối với anh Đỗ Trung V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Lâm Huyền T và anh Đỗ Trung V.
  2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Vũ Lâm Huyền T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên được trừ vào số tiền chị T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000257 ngày 17 tháng 4 năm 2024. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi cục THADSTP Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Bích Đào, UBND phường Thanh Bình, TPNB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Dương Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Tr và anh V lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, quá trình chung sống anh chị ko có con chung, Do mâu thuẫn vc nên chị Tr xin ly hôn, TA chấp nhận yêu cầu của người kk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger