|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST |
Ngày: 02 – 5 – 2024 |
|
“V/v ly hôn giữa anh Tuấn và chị Tiên” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Kim Luyến
- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HN ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hứa Minh T, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ: 2 M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1973 (vắng mặt do mất tích)
Địa chỉ: 1 T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Hứa Minh T có tự khai trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ T1 là vợ chồng, chung sống từ năm 1992, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/12/1992 tại Ủy ban nhân dân phường A, TP Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang (cũ). Quá trình chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2018 giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn hay cự cãi do bất đồng quan điểm. Do mâu thuẫn không thể hòa giải nên giữa vợ chồng đã sống ly thân, trong thời gian này giữa vợ chồng không có liên lạc với nhau. Đến năm 2018 khi ông có liên hệ bà T1 để làm thủ tục ly hôn nhưng không ai biết tin tức gì về bà T1.
Đồng thời, ông cũng đã liên hệ với gia đình và người thân của bà T1 nhưng cũng không có tin tức gì của bà T1. Do đó, để làm thủ tục ly hôn, ông đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Mỹ T1 mất tích. Vào ngày 18/9/2023, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định số 16/2023/QÐST-VDS về việc tuyên bố mà Nguyễn Thị Mỹ T1 mất tích.
Nay ông làm đơn yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ T1.
Về con chung: Ông xác định ông và bà T1 có 01 con chung là cháu Hứa Minh T2 (nam), sinh ngày 22/9/1992 đã trưởng thành nên ông không có yêu cầu xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Bà Nguyễn Thị Mỹ T1 vào ngày 18 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã ra Quyết định số 16/2023/QĐST-VDS về việc tuyên bố mà Nguyễn Thị Mỹ T1 mất tích, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ T1, con chung đã trưởng thành, tài sản và nợ chung không có.
Phía bị đơn – bà Nguyễn Thị Mỹ T1 vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nhận định:
Về thủ tục: Bà Nguyễn Thị Mỹ T1 vào ngày 18 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã ra Quyết định số 16/2023/QÐST-VDS về việc tuyên bố mà Nguyễn Thị Mỹ T1 mất tích, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bà T1 là phù hợp quy định của pháp luật.
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Ông Hứa Minh T và bà Nguyễn Thị Mỹ T1 có đăng ký kết hôn vào ngày vào ngày 22/12/1992 tại Ủy ban nhân dân phường A, TP Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang (cũ) nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, khi có phát sinh tranh chấp sẽ thuộc sự điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về quan hệ hôn nhân nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn”. Do bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T1 có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn trình bày rằng hôn nhân ban đầu là tự tìm hiểu, có tự nguyện tiến tới hôn nhân. Trong quá trình chung sống giữa ông bà hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2018 giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn hay cự cãi do bất đồng quan điểm. Do mâu thuẫn không thể hòa giải nên giữa vợ chồng đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân giữa vợ chồng không có liên lạc với nhau. Đến khi ông T có liên hệ bà T1 để làm thủ tục ly hôn nhưng không ai biết tin tức gì về bà T1.
Đồng thời, ông cũng đã liên hệ với gia đình và người thân của bà T1 nhưng cũng không có tin tức gì của bà T1. Do đó, để làm thủ tục ly hôn, ông đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Mỹ T1 mất tích. Vào ngày 18/9/2023, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định số 16/2023/QÐST-VDS về việc tuyên bố mà Nguyễn Thị Mỹ T1 mất tích. Do vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Giữa ông T và bà T1 có 01 con chung là cháu Hứa Minh T2 (nam), sinh ngày 22/9/1992 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T có tự khai trình bày không có và do xét xử vắng mặt bà T1 nên không đặt ra xem xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 26/12/2016 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao quy định án phí, lệ phí tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Hứa Minh T và bà Nguyễn Thị Mỹ T1.
- Về con chung: Đã trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết thành một vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn ông Hứa Minh T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn ông T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000421 ngày 07/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ được chuyển thành án phí hôn nhân.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Tuấn xin ly hôn với bà Tiên
