TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS - ST. Ngày: 16 – 12 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Thông báo hoãn phiên toà số 06/TB-TA ngày 09 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhuận; Ông Đ oàn Quan Giao.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tò – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Thông báo hoãn phiên toà số 06/TB-TA ngày 09 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đ, sinh ngày 24/6/1982, tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký HKTT: thôn A, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: A C, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Thu mua phế liệu; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Trần Thị Y, vợ là Trần Thị Minh N; con: bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà. Người bị hại: Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1979, cư trú tại: tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Đình N1, sinh năm 1979, cư trú tại: Hẻm A, đường D, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên toà.
- Bà Liêng Hót A, sinh năm 1993; cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên toà.
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1985; cư trú tại: tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên toà.
Những người làm chứng:
- Cháu Liêng Hót Jắck S, sinh năm 2012; cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện hợp pháp của cháu S là bà Liêng Hót A, sinh năm 1993; cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên toà.
- Cháu Võ Công D, sinh năm 2011; cư trú tại: tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện hợp pháp của cháu D là bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1985; cư trú tại: tổ dân phố B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cháu D vắng mặt, bà Á có mặt tại phiên toà.
- Cháu Vũ Gia Nhật N2, sinh năm 2007; cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện hợp pháp của cháu N2 là bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1982; cư trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 15/4/2024, Liêng Hót Jăck S1 rủ Võ Công D cùng nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. D điều khiển xe mô tô BKS 49P1-114.00 (mượn từ Vũ Gia Nhật N2) chở Jăck S1 đi quanh khu vực thị trấn L để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, D và Jăck S1 nhìn thấy có 01 chiếc xe mô tô YAMAHA – Sirius BKS 75F1 – 704.55 của anh Nguyễn Tiến H dựng trên vỉa hè đường Đ (đối diện quán C). Sau khi quan sát thấy xe không khoá cổ, không có người trông coi nên D dắt chiếc xe này xuống lòng đường, ngồi lên xe, chạy xe xuống dốc về hướng cầu Đ, đi vào đường nhánh bên phải rồi dừng lại. Tại đây, S1 dùng cờ lê tháo BKS 75F1 – 704.55 của xe này vứt vào bụi cây, D tháo ốp nhựa của xe mô tô này để rút, nối dây điện rồi đạp cần khởi động xe. S1 điều khiển xe mô tô BKS 49P1-114.00, D điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi quanh khu vực thị trấn L để bán chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được. Khi gặp N2, S1 muốn đổi chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được với xe mô tô BKS 49P1-114.00 nhưng Nam không đồng ý. S1 nói với Nam xe này (xe mô tô vừa trộm cắp được) là xe của của nhà S1 và rủ N2 cùng đi bán chiếc xe này và hứa nếu bán được sẽ “bao” Nam chơi game. N2 đồng ý đi cùng S1, D.
Khi đi đến ngã ba đường B - V thì nhóm S1 thấy ông Trần Đ đang điều khiển xe máy đi trên đường, thấy trên xe máy của ông Đ có chở đồ phế liệu nên nhóm S1 biết ông Đ là người thu mua phế liệu. S1 hỏi ông Đ “chú có mua cái xe này không?”, ông Đ nói “Có” và nói nhóm S1 điều khiển xe máy đi theo ông Đ. Đến ngã ba đường B - Đ thì dừng lại. Sau khi xem chiếc xe do S1, D trộm cắp được, ông Đ trả giá 300.000 đồng, nhóm S1 đồng ý bán. Ông Đ nói nhóm S1 chạy xe theo ông Đ đến đường L, thị trấn L, tại đây, ông Đ trả cho nhóm S1 300.000 đồng và nhóm S1 đã giao chiếc xe mô tô trộm cắp được cho ông Đ.
Sau khi mua được chiếc xe mô tô, ông Đ để chiếc xe này cùng đồ phế liệu tại đường L rồi gọi điện thoại báo cho ông Phạm Đình N1 (người thu mua phế liệu) đến chiếc xe mô tô và đồ phế liệu về kho của ông N1, ông Đ tiếp tục đi thu mua phế liệu. Sau đó, ông N1 đến đường L và dùng xe ba gác chở chiếc xe mô tô và đồ phế liệu về kho của ông N1 tại đường D - Phường G - TP... Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, ông Đ đến kho phế liệu của ông N1 để bán chiếc xe mô tô đã mua được từ nhóm S1. Ông Đ muốn bán chiếc xe vừa mua được cho ông N1 với giá trị sử dụng của chiếc xe nhưng ông N1 đã mua chiếc xe mô tô này từ ông Đ theo giá thu mua phế liệu là 800.000 đồng và đã trả số tiền này cho ông Đ. Sau khi mua chiếc xe mô tô từ ông Đ, ông N1 đã tháo rời chiếc xe này để bán phế liệu. Khi được CQĐT thông báo, ông N1 đã tự nguyện lập ráp lại và giao nộp chiếc xe này cho CQĐT.
Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTSTTHS, ngày 10/5/2024 của HĐĐGTS trong TTHS huyện L kết luận: Giá trị của 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen xám BKS 75F1-704.55, số máy E3X9E35755, số khung 3220HY079052 là 7.100.000 đồng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 26/4/2024 và kết quả xác định hiện trường ngày 27/4/2024 đã xác định vị trí Liêng Hót J, Võ Công D cùng nhau đi trộm cắp xe mô tô BKS 75F1-704.55 tại đường Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; biên bản xác định hiện trường ngày 29/4/2024 đã xác định vị trí Liêng Hót J, Võ Công D, Vũ Gia N2, Nam gặp, thoả thuận mua bán, giao xe mô tô BKS 75F1-704.55 và nhận tiền tại Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
03 video thu được từ hệ thống camera tại ngã 3 đường B - V, đường L và 01 video thu được từ camera của nhà số A đường Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Liêng Hót Jăck S1, Võ Công D, Vũ Gia Nhật N2 và Trần Đ đã xác nhận người xuất hiện trong các video chính là Liêng Hót Jăck S1, Võ Công D, Vũ Gia Nhật N2 và Trần Đ.
Quá trình điều tra, CQ Cảnh sát điều tra – Công an huyện L đã tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius không có biển số, số máy E3X9E35755, số khung 3220HY079052 là tài sản Liêng Hót Jăck S1, Võ Công D đã trộm cắp được và bán cho Trần Đ; CQĐT đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho ông Nguyễn Tiến H là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định. Bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền 800.000 đ (tám trăm nghìn đồng) cho ông N1.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Tiến H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đình N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Bản cáo trạng số 23/VKS-LĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người bị hại là ông Nguyễn Tiến H trình bày: Ông đã nhận được lại xe bị mất, do Cơ quan CSĐT – Công an huyện L giao trả và nhận số tiền 6.000.000 đồng tiền bồi thường từ bà Nguyễn Thị Á (là mẹ ruột của D) và bà Liêng Hót A (là mẹ ruột của S1). Ông không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Đình N1 trình bày: Đã nhận lại số tiền 800.000 đồng mà ông mua xe của bị cáo do bị cáo hoàn trả, nay ông không yêu cầu gì.
Bà Nguyễn Thị Á (là mẹ ruột của D) và bà Liêng Hót A (là mẹ ruột của S1) không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết vấn đề gì liên quan đến số tiền đã bồi thường cho người bị hại.
Bà Nguyễn Thị Ngọc L là chủ sở hữu chiếc xe mà N2 (con trai bà) đã cho D và S1 mượn để đi trộm, bà không biết việc N2 cho D, S1 mượn xe; sau khi đi trộm thì D, S1 đã trả xe cho bà; bà không yêu cầu giải quyết vấn đề gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đ từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Bị cáo, các đương khác không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đ thừa nhận: Bị cáo là người đi nhặt phế liệu và thu mua phế liệu, ngày 15/4/2024, khi được S1 hỏi “Chú có mua cái xe này không?” thì bị cáo đã đồng ý; mặc dù bị cáo biết chiếc xe là tài sản không hợp pháp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 300.000 đồng. Sau đó bị cáo bán lại chiếc xe trên cho ông Phạm Đình N1 – là người thu mua phế liệu, với giá 800.000 đồng (cân theo giá sắt vụn để tính tiền). Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với: Biên bản xác minh hiện trường, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữa được; biên bản trích xuất camera tại các khu vực bị cáo và D, S1 thực hiện hành vi. Do đó đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Mặc dù biết tài sản do người khác đi trộm, nhưng do bị cáo muốn hưởng lợi từ tài sản này mà bất chấp quy định của pháp luật, thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản của người khác đã trộm cắp, là gián tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác có giá trị là 7.100.000 đồng; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý; gây nghi ngờ, mất đoàn kết trong nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình gây ra.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi và trả lại cho người bị hại; bị cáo đã hoàn trả lại số tiền bán tài sản cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (ông Phạm Đình N1); người bị hại (ông Nguyễn Tiến H) đã nhận lại tài sản và số tiền bồi thường của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (của bà Liêng Hót A là mẹ đẻ của Liêng Hót Jắck S, của bà Nguyễn Thị Á là mẹ của Võ Công D), ông H không có yêu cầu gì và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là người có nhân thân tốt nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cần giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề nhặt và thu mua phế liệu, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Tiến H đã nhận lại tài sản bị mất, ông H cũng đã nhận tiền bồi thường từ người giám hộ của D và S. Nay ông H không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius không có biển số, số máy E3X9E35755, số khung 3220HY079052 là tài sản đứng tên bà Hoàng Thanh X1, bà X1 xác định là đã bán chiếc xe này từ lâu nên tài sản này không thuộc sở hữu của bà; bà không có yêu cầu gì đối với chiếc xe. Trong quá trình điều tra, ông Phạm Đình N1 đã giao lại chiếc xe cho cơ quan điều tra; cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Đối với ông Phạm Đình N1, là người mua lại chiếc xe của bị cáo, ông N1 không biết xe là tài sản bất hợp pháp và cũng chỉ mua với giá phế liệu; khi ông biết được chiếc xe này là tài sản trộm cắp, ông đã giao xe cho cơ quan điều tra xử lý; ông đã nhận lại khoản tiền 800.000 đồng mua xe do bị cáo trả, ông không yêu cầu giải quyết vấn đề gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Liêng Hót A – là mẹ đẻ của Liêng Hót Jăck S và bà Nguyễn Thị Á – là mẹ đẻ của Võ Công D: Đều xác định, các bà đã bồi thường cho người bị hại khoản tiền là 6.000.000 đồng (mỗi người là 3.000.000 đồng). Nay các bà không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10]. Trong vụ án này Liêng Hót Jăck S và Võ Công D là người trộm chiếc xe mô tô của ông Nguyễn Tiến H. Hai đối tượng này thực hiện hành vi khi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (chưa đủ 14 tuổi) nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện L ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi của D và S.
[11]. Đối với Vũ Gia Nhật N2, sinh năm 2007, là người cho S và D mượn xe của bà Nguyễn Thị Ngọc L (mẹ đẻ N2), để đi trộm cắp; N2 không biết việc D và S trộm xe của ông H, N2 cũng không bàn bạc và tham gia với S và D nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Tại phiên toà, bà L (mẹ đẻ của N2) xác định: bà không biết con bà cho D và S mượn xe của bà để đi trộm, sau đó D và S đã trả lại xe cho bà, bà không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12]. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đ 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án (16/12/2024).
Giao bị cáo Trần Đ cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự (đã giải thích chế định án treo).
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật hình sự: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phương Dung |
Bản án số 26/2024/HS - ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 26/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đa (tieu thụ TS do người khác PTMC)
