|
HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM *** Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 30/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán xét xử sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng P
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Sương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P1, T gọi khác: không, Giới tính: nam; Sinh ngày: 15 tháng 01 năm 1996 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn L, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Thanh B (sinh năm 1964) và bà Phạm Thị Q (sinh năm 1964) hiện làm nông và ở tại thôn L, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ con.
Tiền án: không;
Tiền sự: ngày 15/9/2023, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mang theo vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác” bằng hình thức phạt tiền.
Nhân thân: ngày 29/01/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 BLHS;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/4/2024, chuyển tạm giam ngày 03/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ; có mặt tại phiên toà.
* Những người tham gia tố tụng:
- Bị cáo: Nguyễn Văn P1
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Mai X, sinh năm 1984 ; có mặt
- Nơi làm việc: Công an huyện Đại Lộc
- + Ông Trương Đình C, sinh năm 1983; có mặt
- Nơi làm việc: Công an huyện Đ
- Nơi thường trú: Khu N, thị trấn Á, Đ, Quảng Nam.
- + Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1984 ; có mặt
- Nghề nghiệp: Công an
- Trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- + Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1987; có mặt
- Nơi làm việc: Công an huyện Đại Lộc
- Trú tại: Khu P, thị trấn Á, Đ, Quảng Nam.
- + Ông Lê Văn T2, sinh năm 1983 ; vắng mặt
- Nơi làm việc: Công an xã Đại An
- Trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- + Ông Lê Văn D, sinh năm 1987; có mặt
- Nghề nghiệp: Công an viên thôn
- Trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- + Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1996; có mặt
- Nghề nghiệp: Công an viên thôn P, xã Đ, Đ, Quảng Nam.
- Trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- + Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1964; vắng mặt
- Trú tại: Thôn L, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
- + Bà Võ Thị Hiền V1, sinh năm 1984; có mặt
- Trú tại: Khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
- Người làm chứng: Ông Lê Hoàng T3, sinh năm 1999; vắng mặt
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ gồm các đồng chí Lê Mai X (làm Tổ trưởng), Trương Đình C, Nguyễn Tấn V và Nguyễn Thị Thanh T1 phối hợp với lực lượng Công an xã Đ, huyện Đ mặc trang phục ngành Công an thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ tại Km08+800 đường ĐT609B thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Tổ công tác phát hiện Nguyễn Văn P1 điều khiển xe mô tô BKS 92F4-1941 không đội mũ bảo hiểm, có biểu hiện sử dụng chất kích thích và tránh chốt kiểm soát nên đồng chí X yêu cầu P1 đưa xe vào vị trí để kiểm tra nồng độ cồn, P1 không chấp hành mà có lời lẽ khiêu khích, đe doạ, xúc phạm đối với các đồng chí trong Tổ công tác. Tổ công tác đề nghị P1 xuất trình giấy phép lái xe và chấp hành việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở. P1 không chấp hành và tiếp tục có lời lẽ lăng mạ, xúc phạm các đồng chí trong Tổ công tác và dùng tay nắm cổ áo của đồng chí X, đồng chí X giải thích cho P1 về việc phải chấp hành hiệu lệnh, nếu có hành vi chống đối sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Lúc này, P1 tiếp tục dùng tay phải nắm cổ áo của đồng chí X và kéo ra phía ngoài đường ĐT609B nhằm ngăn không cho đồng chí X làm nhiệm vụ. Các đồng chí trong Tổ công tác thấy vậy khống chế bắt giữ P1 và điện báo Trực ban Công an huyện Đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đến hiện trường, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ đối với P1. Qua test nhanh đối với P1 có kết quả dương tính với ma tuý loại Methamphetamine và nồng độ cồn trong máu là 0,452mg/L.
* Về vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - đen, BKS 92F4-1941, số máy HC09E6231290, số khung 09056Y231290 ( Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn P1 về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời đề nghị Thẩm phán áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Tại hồ sơ vụ án, người liên quan, người làm chứng khai về diễn biến vụ chống người thi hành công vụ do bị cáo Nguyễn Văn P1 thực hiện như nội dung đã được mô tả tại Quyết định truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn P1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có cơ sở xác định được: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ mặc trang phục ngành Công an thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ tại Km08+800 đường ĐT609B thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Tổ công tác phát hiện Nguyễn Văn P1 điều khiển xe mô tô BKS 92F4-1941 không đội mũ bảo hiểm, có biểu hiện sử dụng chất kích thích nhưng bị cáo Nguyễn Văn P1 tránh chốt kiểm soát và thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Nguyễn Văn P1 là người trưởng thành, có hiểu biết pháp luật, bị cáo nhận thức hành vi chống ngời thi hành công vụ của bị cáo nhằm chống vào những ngời đang thi hành công vụ đó là lực lượng công A công an huyện Đại Lộc. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý hành chính của cơ quan Nhà nớc tại địa phơng nói riêng và của huyện Đ nói chung. Hành vi trái pháp luật của bị cáo nhằm thách thức pháp luật, gây bất bình trong quần chúng nhân dân tại địa phơng. Do vậy, cần phải đợc xử lý nghiêm minh để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Hơn nữa vào ngày 15/9/2023, bị cáo P1 đã bị công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mang theo vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác”. Ngày 29/01/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 BLHS nhưng bị cáo vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn huyện Đ, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh mới có tác dụng ren đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Nguyễn Văn P1 quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo nhận thức được hành vi phạm tội, bị cáo P1 có bà N là Liệt sĩ nên có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.
[2-3] Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với hành vi Nguyễn Văn P1 điều khiển xe mô tô BKS 92F4-1941 tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe theo quy định, sử dụng chất kích thích có nồng độ cồn, ma tuý, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.
-Về xử lý vật chứng:
* Về vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - đen, BKS 92F4-1941, số máy HC09E6231290, số khung 09056Y231290 của ông Nguyễn Thanh B không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn P1 nên trả lại vật chứng này cho ông Nguyễn Thành B1 là phù hợp (Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P1 18 (mười tám) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù: tính từ ngày bị tạm giữ ngày 30/4/2024.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn P1 phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - đen, BKS 92F4-1941, số máy HC09E6231290, số khung 09056Y231290 của ông Nguyễn Thanh B (Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý).
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên Toà có quyền kháng cáo bản án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Phượng |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN VAN PHU
